hiendaihoa.com

banner ni 540x150

Tiềm năng thủy điện Việt Nam và kế hoạch khai thác

Email In PDF.

Việt Nam có diện tích 330.991 km2, trong đó đồi núi và cao nguyên chiếm 4/5 diện tích. Nước Việt Nam hình chữ S chạy dài 1630 km từ cực bắc đến cực nam, chiều rộng lớn nhất ở miền Bắc là 600 km, ở miền Nam là 370 km, chỗ hẹp nhất ở miền Trung tại tỉnh Quảng Bình (thị xã Đồng Hới) là 50 km.

Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều, nóng và ẩm. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2000 mm. Lượng mưa rơi nhiều nhất đạt tới 4000 - 5000 mm, nơi mưa thấp nhất cũng đạt trên 1000 mm. Mùa mưa trong năm thường từ 3 - 5 tháng. Ở miền Bắc, miền Nam và Tây Nguyên, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5, 6 và kết thúc vào tháng 10, 11. Ở khu vực Đông Trường Sơn và vùng duyên hải miền Trung mùa mưa bắt đầu chậm hơn 2, 3 tháng và vùng khu 4 cũ (từ Quy Nhơn - Nghệ Tĩnh), mùa mưa bắt đầu chậm hơn 1, 2 tháng. Lượng mưa tập trung vào 3 tháng có mưa nhiều nhất, chiếm khoảng 70 - 80% tổng lượng mưa trong năm. Hệ thống sông ngòi Việt Nam có mật độ cao. Tổng số các con sông có chiều dài lớn hơn 10 km là 2400. Hầu hết sông ngòi Việt Nam đều đổ ra biển Đông. Hàng năm, mạng lưới sông suối Việt Nam vận chuyển ra biển lượng nước 870 km3/năm, tương ứng với lưu lượng bình quân khoảng 37.500 m3/s.

Tiềm năng thuỷ điện Việt Nam

Tiềm năng lý thuyết về thuỷ điện Việt Nam xác định khoảng 300 tỷ kWh (tính cho những con sông dài hơn 10 km). Tiềm năng kỹ thuật xác định khoảng 123 tỷ kWh, tương đương với công suất lắp máy khoảng 31.000 MW. Tiềm năng kinh tế, kỹ thuật hiện được xác định khoảng 75 - 80 tỷ kWh, tương đương với công suất lắp máy khoảng 18.000 - 20.000 MW.

Theo tài liệu quy hoạch các dòng sông do các công ty tư vấn xây dựng điện 1,2 lập đã được phê duyệt và Quy hoạch thủy điện Quốc gia do hãng SWECO - STATKRAFT lập cho 9 hệ thống sông chính (năm 2005), trữ năng kinh tế kỹ thuật của các hệ thống sông chính theo thứ tự từ Bắc vào Nam như sau:

STT

Tên sông

Công suất lắp máy NLM (MW)

Điện lượng TB hằng năm (E0 năm) (triệu kWh)

1

Sông Lô - Gâm – Chảy

1.089

4.025

2

Sông Đà

6.756

30.690

3

Sông Mã

1.087

4.000

4

Sông Cả

416

1.484

5

Sông Hương

284

1.315

6

Sông Vũ Gia – Thu Bồn

1.359

4.965

7

Sông Trà Khúc

135

625

8

Sông Ba

669

2.600

9

Sông Sê San

1.796

7.320

10

Sông Serepok

650

2.850

Một phần không nhỏ trong trữ năng kinh tế kỹ thuật nêu trên là thủy điện nhỏ và vừa. Theo quy hoạch thủy điện nhỏ toàn quốc đã được Bộ Công nghiệp phê duyệt năm 2005 thì số dự án thuỷ điện có công suất từ 1 MW đến dưới 30 MW ở 31 tỉnh thành khoảng 300 dự án. Tổng công suất lắp máy khoảng 2000 - 2500 MW tương ứng với điện lượng trung bình hàng năm khoảng 8 - 10 tỷ kWh. Các tỉnh có tiềm năng thủy điện nhỏ lớn là Lào Cai (23 dự án, tổng công suất 500 MW), Yên Bái (29 dự án với tổng công suất 240 MW), Nghệ An (18 dự án với tổng công suất 150 MW), Sơn La (19 dự án với tổng công suất 115 MW)…

Về thuỷ điện tích năng, theo tài liệu quy hoạch của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) lập, đã được Bộ Công nghiệp phê duyệt tháng 11 năm 2005 thì trên cơ sở nghiên cứu 38 địa điểm và kiến nghị 10 dự án có tính khả thi với tổng công suất lắp máy khoảng 10.000 MW (Sơn La: 7 dự án, Hoà Bình: 1 dự án, Ninh Thuận: 1 dự án, Bình Thuận: 1 dự án).

Kế hoạch khai thác thuỷ điện

Hiện tại, tổng công suất các nhà máy thủy điện đang vận hành là 4.198 MW, bao gồm: 11 nhà máy thuỷ điện lớn là Hoà Bình 1.920 MW, Ialy 720 MW, Trị An 400 MW, Hàm Thuận 300 MW, Đa Mi 175 MW, Đa Nhim 160 MW, Thác Mơ 150 MW, Thác Bà 108 (120) MW, Cần Đơn 78 MW, Sông Hinh 70 MW, Vĩnh Sơn 66 MW; 51 MW các thủy điện nhỏ (28 tỉnh có thủy điện nhỏ, tổng số 125 trạm với tổng công suất lắp máy 99 MW, hiện tại có 57 trạm đang hoạt động. Các tỉnh có nhiều thủy điện nhỏ đang hoạt động là Gia Lai 12 trạm với tổng công suất 15,6 MW, Hà Giang 6 trạm với tổng công suất 17 MW, Đăk Lăk 3 trạm với tổng công suất 12,8 MW, Cao Bằng 7 trạm với tổng công suất 11,8 MW…).

Hiện tại EVN đang triển khai xây dựng 20 nhà máy thủy điện để đưa vào vận hành đến những năm 2010 - 2012 với tổng công suất 6.768 MW, theo thứ tự từ Bắc vào Nam là:

STT

Tên công trình

Tỉnh

Công suất

(MW)

1

Tuyên Quang

Tuyên Quang

342

2

Sơn La

Sơn La

2.400

3

Huội Quảng

Sơn La

520

4

Bản Chát

Lai Châu

220

5

Bản Vẽ

Nghệ An

300

6

Quảng Trị

Quảng Trị

64

7

Sông Tranh 2

Quảng Nam

190

8

Sông Ba Hạ

Phú Yên

220

9

An Khê Kanak

Gia Lai

173

10

A Vương

Quảng Nam

210

11

Đồng Nai 3

Lâm Đồng

240

12

Đồng Nai 4

Lâm Đồng

270

13

Đại Ninh

Lâm Đồng

300

14

Bắc Bình

Bình Thuận

33

15

Buôn Tua Srah

Đăklăk

86

16

Buôn Kuốp

Đăklăk

280

17

Serepok 3

Đăklăk

220

18

Pleikrông

Kon Tum

110

19

Sê San 3

Gia Lai

260

Ngoài các nhà máy thủy điện đang triển khai xây dựng để đưa vào vận hành những năm 2010 - 2012, hiện Tổng công ty Điện lực Việt Nam đang chuẩn bị xây dựng các dự án Thác Mơ mở rộng 75 MW (Bình Phước), Khe Bố 90 MW (Nghệ An) và đang triển khai công tác chuẩn bị đầu tư để xây dựng các nhà máy thủy điện khác (công suất >100 MW) và sẽ đưa vào vận hành những năm sau 2010 như: Thủy điện Lai Châu: 1200 MW (Lai Châu); Thủy điện Bản Uôn (Trung Sơn): 250 MW (Thanh Hoá); Thủy điện Sông Bung 4: 145 MW (Quảng Nam); Thủy điện Sông Bung 2: 100 MW (Quảng Nam); Thủy điện Nho Quế 3: 135 MW (Hà Giang); Thủy điện Đắc Mi 1: 200 MW (Quảng Nam); Thủy điện Thượng Kon Tum: 260 MW (Kon Tum)…

Về thủy điện tích năng, hiện tại EVN đang phối hợp với tư vấn Nhật lập PFS (báo cáo đầu tư) 2 dự án thủy điện tích năng, công suất mỗi dự án khoảng 1.000 MW tại Phù Yên Đông (Sơn La) và tại Bắc ái (Ninh Thuận) để triển khai công tác chuẩn bị đầu tư nhằm đưa 1 dự án vào vận hành năm 2018 - 2020, 1 dự án đưa vào vận hành những năm 2020 - 2025.

Ngoài các dự án thủy điện do EVN làm chủ đầu tư, hiện nay nhiều dự án thủy điện khác do các nhà đầu tư trong nước đầu tư để đưa vào vận hành đến những năm 2010, theo hình thức BOT, IPP với tổng công suất lắp máy trên 1000 MW. Về thủy điện nhỏ, theo kế hoạch đến năm 2010 sẽ đưa vào vận hành từ 300 đến 400 MW.

Như vậy, nếu các nhà máy thủy điện đưa vào vận hành đúng tiến độ thì đến năm 2020 sẽ khai thác hết khoảng 90% tiềm năng kinh tế kỹ thuật thủy điện.

(theo: Tạp chí Điện lực số 9 – 2006)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: