29590 ban_at_semiconductor_540x150

Bơm cát khai thác titan từ hợp kim chịu mài mòn

Email In PDF.

Trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng các loại vật liệu chịu mài mòn và ăn mòn dùng trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp như chế tạo máy, khai thác khoáng sản, xây dựng, giao thông vận tải chế tạo máy móc phục vụ sản xuất ngày càng tăng.…Trước đòi hỏi của thực tế sản xuất, đề tài "Nghiên cứu chế tạo hợp kim chịu mài mòn và ăn mòn hệ Fe-Cr-C" của Viện Khoa học Vật liệu thuộc Viện Khoa học và Công nghệ quốc gia đã ra đời.

bomcat2812062Sau hơn 2 năm nghiên cứu và phát triển (R&D) và 2 năm nghiên cứu hoàn thiện đưa vào sản xuất, đề tài đã thu được những kết quả rất tích cực, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất. Ông Nguyễn Văn Tích phó viện trưởng Viện khoa học vật liệu và Ông Đoàn Đình Phương phân viện trưởng Phân viện vật liệu kim loại cho biết: "Một trong những ứng dụng rất có hiệu quả của đề tài là sản xuất các chi tiết chịu mài mòn cao, đòi hỏi trong quá trình chế tạo phải qua công đoạn gia công cơ khí như bơm cát, quặng phục vụ công nghiệp khai thác titan, xyclon thuỷ lực cho ngành chế biến khoáng sản. Từ khi hoàn thành đến nay, doanh số hàng năm thu được từ dự án sản xuất luôn đạt được từ 700 triệu - 1 tỷ đồng".

Về phía người tiêu dùng, phó giám đốc công ty Cổ phần Khoáng sản Bình Định (một trong số các khách hàng của Phân viện) Hà Văn Cường cho biết, các bơm mà trước kia công ty sử dụng làm bằng gang xám hoặc thép thường chỉ có thể chạy được 150h (khoảng 1 tuần) là hỏng phải sửa chữa thay thế. Khi sử dụng sản phẩm (SP) bơm làm từ hợp kim chịu mài mòn do Viện chế tạo, bơm hoạt động liên tục hàng tháng trời, số giờ hoạt động ổn định lên tới 1.500h trong khi giá thành chỉ gấp 5-6 lần SP cũ. Ngoài ra công ty cũng tiết kiệm rất nhiều chi phí bảo dưỡng, thay thế và dừng sản xuất do tuổi thọ của bơm được kéo dài hơn. Nếu so với bơm cát nhập ngoại cùng loại như của hãng Metso có độ bền và hiệu suất động cơ cao hơn, song lại có giá thành cao gấp gần 30 lần (250-300 tr.đồng) so với SP của Viện.

Trong thời gian thực hiện dự án, tập thể nghiên cứu đã gặp không ít khó khăn, không chỉ về áp lực thời gian, về máy móc thiết bị và tài liệu nghiên cứu mà nhiều lần sản xuất thử nghiệm gặp thất bại. Bởi nhiều tháng liền không có thứ bảy, chủ nhật dành cho gia đình, anh em thường nói vui: "nhiều khi vợ giận dỗi cả tuần vì không quan tâm chăm sóc đến vợ con". Hơn nữa, anh em cũng phải tự tìm tòi mò mẫm từ khâu thiết kế SP cho đến khi sản xuất ra thành phẩm và chế tạo phải đạt độ chính xác cao phù hợp với nhu cầu của thị trường. Nhưng khó khăn lớn nhất mà đề tài gặp phải trong thực tế sản xuất là nguyên liệu đầu vào luôn thay đổi về chất lượng, thành phần và nhiều tạp chất so với điều kiện lý tưởng của phòng thí nghiệm trong khi chất lượng đầu ra của SP không được thay đổi, cấu trúc vật liệu phải ổn định để đảm bảo khả năng chịu áp lực và mài mòn. Tuy nhiên, sau mỗi lần thất bại là một lần đúc rút thêm kinh nghiệm. Cuối cùng, phần thưởng lớn nhất của tập thể Phân viện là SP đã có được vị trí vững vàng trên thị trường (TT), lợi nhuận thu được đủ hoàn trả kinh phí Nhà nước đã đầu tư.

Với nỗ lực của nhóm các nhà khoa học, đề tài "Nghiên cứu chế tạo hợp kim chịu mài mòn và ăn mòn hệ Fe-Cr-C" đã có những thành công bước đầu. Tuy nhiên trong thực tiễn thực hiện cũng đã bộc lộ một số khó khăn từ cơ chế chính sách cần được tháo gỡ. Anh Phương cho biết, các dự án P (dự án sản xuất thử nghiệm) sản xuất ra SP cụ thể nên phải chấp nhận theo các quy luật kinh tế TT, trong khi cơ chế tài chính lại chi tiêu theo ngân sách với thủ tục khá phức tạp, tiến độ giải ngân chưa phù hợp với tiến độ triển khai đề tài. Thủ tục giải ngân thường bắt đầu từ đầu tháng 6 hàng năm trong khi đòi hỏi của TT luôn biến động, cạnh tranh ngày càng gay gắt. Sự biến đổi nhanh chóng của TT làm cho SP đăng ký ban đầu gặp rất nhiều rủi ro, nhiều khi SP sản xuất ra không còn phù hợp với nhu cầu TT cho dù công sức và thời gian hoàn thiện công nghệ và SP đôi khi còn lớn hơn rất nhiều so với đầu tư nghiên cứu. Do đó thường phải mất thêm từ 2-3 năm sau khi kết thúc giai đoạn R&D mới ổn định được công nghệ, thương mại hoá được SP và thu hồi được kinh phí, đặc biệt là các SP hàng hoá cụ thể. Vì vậy Nhà nước cần điều chỉnh bổ sung cơ chế tài chính theo hướng linh hoạt hơn cho các dự án P để có thể thúc đẩy nhanh quá trình đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thực tế sản xuất.

Bạn đọc quan tâm đến Đề tài có thể liên hệ với Ts. Đoàn Đình Phương, Viện Khoa học vật liệu, ĐT: 0913.530.185.
(theo: KH&PT) 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: