29590 ban_at_semiconductor_540x150

Schneider Electric giới thiệu các Giải pháp Đổi mới Hạ tầng Vật lý Trung tâm Dữ liệu

Schneider Electric giới thiệu các Giải pháp Đổi mới Hạ tầng Vật lý Trung tâm Dữ liệu

TP Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng 10 năm 2014 – Schneider Electric, chuyên gia hàng đầu thế giới về các giải pháp nguồn tối thiết và làm mát chính xác, hôm nay tổ chức hội thảo giải pháp trung tâm dữ liệu (TTDL) với chủ đề “Sẵn sàng Tăng trưởng Kinh doanh với Hạ tầng Trung tâm Dữ liệu Đổi mới Sáng tạo” dành cho các chuyên gia và quản lý IT cũng như quản lý hệ thống thiết bị tại các công ty thuộc đa lĩnh vực tại Việt Nam. Hội thảo diễn ra tại TP Hồ Chí Minh, công bố những giải pháp chính và mới nhất của Schneider Electric trong năm 2014 nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của doanh nghiệp về các dịch vụ quản lý năng lượng, tối ưu hóa sử dụng năng lượng và hiệu suất hoạt động của trung tâm dữ liệu.

Đọc thêm...

Giải pháp quản lý năng lượng hiệu quả của Schneider Electric

Giải pháp quản lý năng lượng hiệu quả của Schneider Electric

Khả năng tiết kiệm điện năng lớn nhất là khâu sử dụng năng lượng hữu ích cuối cùng để tạo ra các dịch vụ, mục tiêu các giải pháp thông minh được các nhà quản lý năng lượng hướng tới.

Đọc thêm...

3 bước giảm chi phí hệ thống máy bơm công nghiệp

3 bước giảm chi phí hệ thống máy bơm công nghiệp

Trung bình một hệ thống bơm công nghiệp khi vận hành đang chiếm đến 40% tổng chi phí đầu tư ban đầu. Thực tế cho thấy, mức tiêu thụ các hệ thống bơm công nghiệp nếu không được quan tâm đúng mức, gây ảnh hưởng lớn đến chi phí.

Đọc thêm...

Ứng dụng mô hình nhà máy điện ảo trong điều khiển lưới điện thông minh

Ứng dụng mô hình nhà máy điện ảo trong điều khiển lưới điện thông minh

Ngày nay, các nước phát triển trên thế giới đang xu hướng đưa lưới điện thông minh (Smart Grid) vào vận hành tối ưu hóa hệ thống điện thay dần các lưới điện truyền thống hiện nay. Với những ưu điểm nổi bậc của lưới điện thông minh như: dễ dàng kết nối và phát huy tối đa công suất của các nguồn cung cấp, cho phép các hộ tiêu thụ có vai trò trong việc tối ưu hóa vận hành lưới điện, cung cấp cho hộ tiêu thụ nhiều thông tin và nhiều phương án hơn về lựa chọn nguồn cung cấp. Ứng dụng mô hình nhà máy điện ảo (Virtual Power Plants - VPP) trong điều khiển lưới điện thông minh là một hướng nghiên cứu mới. VPP sử dụng nguồn năng lượng tái tạo có công suất nhỏ và phân tán (Distributed Energy Resources - DER) để tích hợp chúng vào lưới điện thông minh là một vấn đề lớn, vì DER có quy mô quá nhỏ so với mạng lưới. Bài báo đã đưa ra được kết quả mô phỏng điều khiển lưới điện thông minh theo mô hình VPP là một phương pháp để kết hợp các DER vào lưới điện. 

LÊ KIM ANH
Trường cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

1. Đặt vấn đề

Thuật ngữ hệ thống điện thông minh (Smart Grid) đã xuất hiện vào năm 1998 và mô hình bắt đầu được áp dụng từ năm 2005 tại nhiều nước phát triển. Theo [1], đây là sự nâng cấp và cập nhật từ hệ thống điện hiện có bằng công nghệ đo lường, điều khiển và bảo vệ kỹ thuật số với hệ thống truyền thông hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu về độ tin cậy, an toàn, chất lượng điện, tiết kiệm năng lượng. Hệ thống điện thông minh phải có khả năng tự duy trì hoạt động trước các sự thay đổi bất thường của lưới điện (Bao gồm các hệ thống lưới truyền tải siêu cao áp 500 kV, 220 kV, lưới địa phương qua đường dây 110 kV và thấp hơn..).

Các kỹ thuật điều khiển cho lưới điện thông minh dựa trên cơ sở trí tuệ nhân tạo đã được phát triển và đem lại cho hệ thống điện các tính năng nổi trội. Các ưu điểm chính của hệ thống điện thông minh là: Dễ dàng kết nối và đảm bảo vận hành cho tất cả các nguồn điện với các kích cỡ và công nghệ khác nhau, kể cả các nguồn năng lượng tái tạo (Renewable Energy sources - RES) nói chung và nguồn điện phân tán (Distributed Energy Resources - DER) nói riêng, làm cho toàn bộ hệ thống vận hành hiệu quả hơn. Cho phép các hộ tiệu thụ điện chủ động tham gia vào việc vận hành tối ưu hệ thống, làm cho thị trường điện cạnh tranh và phát triển. Cung cấp cho các hộ dùng điện đầy đủ thông tin và các lựa chọn nguồn cung cấp. Giảm thách thức về môi trường của hệ thống điện một cách đáng kể, nâng cao độ tin cậy, chất lượng và an toàn của hệ thống cung cấp điện. Duy trì và cải tiến các dịch vụ hiện hành một cách hiệu quả. Bài báo ứng dụng mô hình điều khiển nhà máy điện ảo (Virtual Power Plants - VPP) trong điều khiển lưới điện thông minh, đây cũng là một phần trong hệ thống điều khiển lưới điện thông minh.

2. Điều khiển hệ thống lưới điện thông minh dựa trên mô hình nhà máy điện ảo (VPP)

Hệ thống điều khiển lưới điện thông minh theo mô hình nhà máy điện ảo (VPP) bao gồm các thành phần cơ bản, như hình 1. Theo [2], các nguồn phân tán trong lưới điện thông minh như (điện gió, pin mặt trời, pin nhiên liệu, thủy điện nhỏ, khí sinh học…) và các cảm biến thông minh tốc độ cao (PowerManagement Unit – PMU) phân bố trong mạng có thể được sử dụng để chỉ thị chất lượng điện và một số đáp ứng một cách tự động, các cảm biến này có thể đưa ra dạng sóng dòng điện. Từ những năm 1980, xung nhịp đồng hồ từ hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System – GPS) có thể được sử dụng để đo chính xác thời gian trong lưới, có khả năng quản lý hệ thống điện đáp ứng các điều kiện tác động nhanh.

3. Ứng dụng mô hình nhà máy điện ảo trong điều khiển lưới điện minh

3.1. Khả năng ứng dụng lưới điện thông minh tại Việt Nam

Theo [3], ngày 08/11/2012, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã ký quyết định số 1670/QĐ-TTg phê duyệt đề án phát triển lưới

điện thông minh tại Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng điện năng, độ tin cậy cung cấp điện; góp phần trong công tác quản lý nhu cầu điện, khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, giảm nhu cầu đầu tư vào phát triển nguồn và lưới điện; tăng cường khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên năng lượng, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. (Đề án chia làm 3 giai đoạn thực hiện, giai đoạn 1 (2012 - 2016), giai đoạn 2 ( 2017 - 2022) và giai đoạn 3 sau năm 2022).

3.2. Ứng dụng mô hình nhà máy điện ảo trong điều khiển lưới điện thông minh (Smart Grid)

3.2.1. Công nghệ điều khiển lưới điện thông minh

Cho đến hiện nay, theo [4] chưa có một tác giả hoặc một tổ chức nào khẳng định chắc chắn rằng về các công nghệ sẽ được sử dụng trong tương lai đối với lưới điện thông minh, tuy nhiên chúng ta có thể chỉ ra được các đặc tính chính của lưới điện thông minh bao gồm các thành phần cơ bản như: việc thu thập dữ liệu, phân tích và dự báo, điều khiển giám sát và quản lý, phát triển hệ thống cho phép trao đổi thông tin hai chiều giữa nhà cung cấp điện và khách hàng sử dụng điện.

3.2.2. Lưới điện thông minh điều khiển theo VPP

Điều khiển các nguồn phân tán (DER) và nguồn năng lượng tái tạo (RES) tích hợp vào lưới điện thông minh theo mô hình VPP, như hình 2. Theo [5], các trạm biến áp thông minh, và thiết bị thông minh đã được lắp đặt trong hệ thống điện, ở các cấp điện áp khác nhau như: điện áp trung bình (MV), điện áp thấp (LV). Tuy nhiên chúng ta còn phải nỗ lực hết sức để có thể biến một hệ thống điện truyền thống như hiện nay thành một hệ thống điện thông minh (Smart Grid) thực sự. Bởi vì hệ thống không chỉ đơn thuần là các phần cứng và phần mềm.

4. Xây dựng mô hình và mô phỏng trên Matlab - Simulink

4.1. Xây dựng mô hình trên Matlab - Simulink

Các nguồn phân tán (DER) tích hợp trong lưới điện thông minh và điều khiển theo mô hình nhà máy điện ảo được xây dựng trên Matlab - Simulink như hình 3, sử dụng 3 nguồn phân tán là các máy phát điện diesel. Hệ thống điều khiển trung tâm VPP nhận tín hiệu phản hồi từ các tải, đồng thời đưa tín hiệu điều khiển đến các nguồn phân tán.

4.2. Kết quả mô phỏng trên Matlab - Simulink

Nhận xét: Qua kết quả mô phỏng ta thấy tại thời điểm t < 0.1s và t > 0.4s hệ thống làm việc không tải. Ở thời điểm [t = 0.1÷0.4s] thực hiện đóng tải, các giá trị dòng điện, điện áp và công suất luôn làm việc ở trạng thái ổn định.

5. Kết luận

Ứng dụng mô hình nhà máy điện ảo (VPP) trong điều khiển lưới điện thông minh đã phát huy được tối đa công suất của các nguồn phân tán tích hợp vào lưới, đồng thời mang lại hiệu quả cao về tính kinh tế so với điều khiển các nguồn độc lâp. Điều khiển lưới điện thông minh theo mô hình VPP nhằm hướng đến phát triển tối ưu hóa vận hành hệ thống điện, thông qua hệ thống cáp quang điện thoại và Internet người tiêu dùng có thể lựa chọn nguồn cung cấp , kiểm tra chất lượng điện năng, lượng điện tiêu thụ và hóa đơn tiền điện trực tuyến, thậm chí điều khiển các thiết bị dùng điện từ xa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lê Văn Doanh, Nguyễn Thị Nguyệt, Hệ thống điện thông minh Smart Grid, Tạp chí tự động hóa ngày nay, số 128 (7/2011).

[2] P.Lombardi, M.Powalko, K.Rudion, Optimal operation of a Virtual Power Plant, PES General Meeting (GM) ,26 – 30 (2009).

[3] http://thuvienphapluat.vn, Quyết định phê duyệt đề án phát triển lưới điện thông minh tại Việt Nam, Số: 1670/QĐ-TTg (2012).

[4] http://www.ats.com.vn

[5] K. El Bakari, W.L. Kling, Smart Grids: combination of ‘Virtual Power Plant’- concept and ‘smart network’- design, IEEE (2010).

(theo: nangluongvietnam)


Đo đặc tuyến điện trở động: Sự cần thiết cho bảo dưỡng máy cắt điện cao thế

Đo đặc tuyến điện trở động: Sự cần thiết cho bảo dưỡng máy cắt điện cao thế

Một trong những giải pháp để đánh giá được chất lượng bộ tiếp điểm hồ quang mà không cần phải mở khoang cắt là phép đo đặc tuyến điện trở động, chẩn đoán chuyên sâu các máy cắt cao thế. Kết quả đo đặc tuyến điện trở động là một trong những cơ sở quan trọng quyết định bảo dưỡng có điều kiện các máy cắt điện cao áp và siêu cao áp.

I. Đặt vấn đề

Các máy cắt điện cao áp và siêu cao áp dập hồ quang bằng khí SF6 đang sử dụng với cấp điện áp 110kV trở lên hầu hết đều có 2 bộ tiếp điểm song song cùng vận hành gồm tiếp điểm chính và tiếp điểm hồ quang. Mỗi loại tiếp điểm có cấu tạo, thiết kế và những chức năng khác nhau trong quá trình đóng hoặc cắt máy cắt.

Các tiếp điểm hồ quang có vai trò rất quan trọng nên phải được kiểm tra thường xuyên, phát hiện kịp thời các khuyết tật để có kế hoạch bảo dưỡng, xử lý hoặc thay thế kịp thời đảm bảo đóng cắt dòng tải, đóng vào điểm sự cố (ngắn mạch) hoặc khi cắt dòng ngắn mạch trên lưới điện không gây ra sự cố hay cháy nổ khoang cắt.

Muốn đánh giá được chất lượng bộ tiếp điểm hồ quang cần phải mở khoang cắt, nhưng đòi hỏi chi phí rất lớn do phải cắt điện trong thời gian dài, tháo lắp và xử lý các sản phẩm thứ cấp của khí SF6… cũng rất phức tạp.

Một trong những giải pháp để đánh giá được chất lượng bộ tiếp điểm hồ quang mà không cần phải mở khoang cắt là phép đo đặc tuyến điện trở động, chẩn đoán chuyên sâu các máy cắt cao thế. Kết quả đo đặc tuyến điện trở động là một trong những cơ sở quan trọng quyết định bảo dưỡng có điều kiện các máy cắt điện cao áp và siêu cao áp.

II. Cấu tạo, công dụng và quá trình làm việc của các tiếp điểm trong khoang cắt

1. Cấu tạo, công dụng các loại tiếp điểm trong khoang cắt

- Tiếp điểm chính được mạ bạc hoặc bằng bạc có điện trở thấp, được thiết kế bằng vật liệu chịu sự tăng nhiệt đột ngột kém hơn rất nhiều so với tiếp điểm hồ quang, tiếp điểm chính có tác dụng khi máy cắt đã đóng, mang phụ tải vận hành bình thường.

- Tiếp điểm hồ quang làm bằng vật liệu chịu tăng nhiệt đột biến lớn và có điểm nóng chảy cao như Wolfram-Copper dùng có tác dụng dập hồ quang khi cắt hoặc khi đóng phụ tải hoặc dòng ngắn mạch. Lúc đó, tiếp điểm sẽ đóng vào đầu tiên trong quá trình đóng và cắt ra cuối cùng trong quá trình cắt dòng tải hoặc dòng sự.

- Đối với các máy cắt 500kV, ngoài khoang cắt chính còn có thêm các khoang phụ: Khoang điện trở đóng trước có tiếp điểm điện trở để hạn chế dao động quá điện áp khi đóng máy cắt vào đường dây siêu cao áp dài lúc không tải và khoang tụ phân áp dùng để chia đều điện áp trên các khoang khi máy cắt cắt và hạn chế tốc độ phục hồi điện áp.

Hình 1: Cấu tạo bên trong khoang cắt 110kV

 

2. Sơ đồ mô phỏng tương đương về phần điện các loại tiếp điểm trong khoang cắt

Trong quá trình cắt hoặc đóng tải, dòng sự cố chuyển dần từ tiếp điểm chính qua tiếp điểm hồ quang hoặc theo chiều ngược lại. Có thể mô phỏng tương đương các loại tiếp điểm trong khoang cắt về phần điện như sau:

a. Đối với máy cắt có 1 khoang cắt:

Các máy cắt 110 kV, 220 kV thường chỉ có 1 khoang cắt cho 1 pha có sơ đồ điện tương đương như hình vẽ dưới (hình 2).

Hình 2: Sơ đồ tương đương 1 khoang cắt

 

b. Đối với MC nhiều khoang cắt

Các máy cắt 500 kV thường có từ 2 đến 4 khoang cắt cho 1 pha có sơ đồ điện tương đương như hình vẽ dưới (hình 3).

Hình 3: Sơ đồ tương đương máy cắt có 4 khoang cắt trên 1 pha

 

1: Tiếp điểm chính MC; 2: Tiếp điểm hồ quang; 3: Tiếp điểm điện trở; 4: Tụ phân áp c.

Đối với MC có 2 hoặc 3 khoang cắt cấu tạo vẫn giống như trên chỉ bớt số khoang hoặc có loại không có tiếp điểm điện trở.

3. Quá trình làm việc và chức năng của các tiếp điểm trong khoang cắt

Hình 4: Quá trình cắt của khoang cắt 110 kV - ABB


Thứ tự làm việc các tiếp điểm trong khoang cắt máy cắt như sau:

3.1. Đối với máy cắt 110 - 220 kV:

a. Khi máy cắt đóng: Tiếp điểm hồ quang 2 đóng trước để dập hồ quang rồi đến tiếp điểm chính 1 đóng để mang tải vận hành.

b. Khi máy cắt cắt: Tiếp điểm chính 1 cắt trước, dòng tải chuyển qua tiếp điểm hồ quang 2, rồi đến tiếp điểm hồ quang 2 cắt cô lập máy cắt, hồ quang được dập tắt trong tiếp điểm hồ quang.

3.2. Đối với máy cắt 500kV:

a. Khi máy cắt đóng: Tiếp điểm điện trở 3 đóng trước, đến tiếp điểm hồ quang 2 đóng để dập hồ quang rồi đến tiếp điểm chính 1 đóng để mang dòng tải vận hành.

b. Khi máy cắt cắt:

+ Loại máy cắt có tiếp điểm điện trở tham gia vào quá trình cắt (kiểu FX-32D, 3AP5FI…): tiếp điểm điện trở cắt trước, đến tiếp điểm chính 1 cắt lúc này dòng tải chuyển qua tiếp điểm hồ quang 2, rồi đến tiếp điểm hồ quang 2 cắt cô lập máy cắt, hồ quang được dập tắt trong tiếp điểm hồ quang.

+ Loại máy cắt có tiếp điểm điện điện trở không tham gia vào quá trình cắt (kiểu 550MHMe-4Y, tiếp điểm điện trở đã cắt lại khi tiếp điểm máy cắt đóng): Tiếp điểm chính 1 cắt lúc này dòng tải chuyển qua tiếp điểm hồ quang 2, rồi đến tiếp điểm hồ quang 2 cắt cô lập máy cắt, hồ quang được dập tắt trong tiếp điểm hồ quang.

III. Những sự cố bất thường nằm ngoài phạm vi đánh giá của các hạng mục thí nghiệm thông thường của máy cắt

- Các hạng mục thí nghiệm máy cắt hiện nay đang áp dụng tại các đơn vị như: Chụp sóng đo thời gian hoạt động máy cắt, đo điện trở tiếp xúc, kiểm tra chức năng phần điện, kiểm tra phần truyền động cơ, kiểm tra khí SF6 … để đánh giá tổng quan một máy cắt vận hành bình thường hay không.

- Ở một góc độ nào đó các kết quả này không đủ cơ sở tin cậy để chẩn đoán sâu các chi tiết của máy cắt. Có những trục trặc bất thường trên các tiếp điểm hồ quang mà các hạng mục thí nghiệm máy cắt thông thường chỉ có thể phát hiện được khi các trục trặc đã lớn ở giai đoạn cuối, còn các giai đoạn trước đó thì hầu hết không phát hiện được để có kế hoạch thay thế bão dưỡng phù hợp. Đối với các trục trặc này cần hạng mục chẩn đoán chuyên sâu hơn như hạng mục đo đặc tuyến điện trở động máy cắt.

- Hạng mục đo đặc tuyến điện trở động máy cắt có thể tìm ra được các trục trặc trong các khoang cắt như sau: (xem cụ thể ở các hình ảnh thực tế đi kèm).

1. Các trục trặc bất thường tại các điểm tách ra cuối cùng hoặc tiếp xúc đầu tiên của các tiếp điểm hồ quang (hình 5, 6).

2. Độ ăn mòn của các tiếp điểm hồ quang và tiếp điểm chính máy cắt vượt quá mức thông thường hay tới mức dị thường mà không cần mở khoang cắt ra (hình 5).

3. Tiếp điểm động và tiếp điểm tĩnh của máy cắt không thẳng hàng (lệch tâm), các tiếp điểm hồ quang hoạt động không được trơn tru (hình 6).

4. Chất lượng tiếp xúc của các tiếp điểm hồ quang xấu do quá trình cắt sự cố ngắn mạch hoặc cắt dòng tải trong vận hành. Đối với máy cắt khí SF6, các sản phẩm thứ cấp của khí SF6 sinh ra trên mặt tiếp điểm làm giảm chất lượng tiếp xúc của các tiếp điểm hồ quang (xem hình 5, 7).

Hình 7: Chất lượng tiếp xúc của các tiếp điểm hồ quang xấu do các sản phẩm thứ cấp của khí

 

SF6 sinh ra trên mặt tiếp điểm làm giảm chất lượng tiếp xúc của các tiếp điểm hồ quang.

IV. Đặc tuyến điện trở động

1. Đặc tuyến điện trở động các tiếp điểm máy cắt cao thế

- Khi đo điện trở tiếp xúc, chỉ có thể đo được điện trở tiếp điểm chính ở trạng thái tĩnh khi MC đã đóng, còn tiếp điểm hồ quang đã bị nối tắt không đánh giá được. Có những trường hợp, tiếp điểm hồ quang đã bị hỏng, nhưng điện trở tiếp xúc vẫn tốt, dẫn đến thiếu sót trong đánh giá mức độ vận hành an toàn của máy cắt.

- Phép đo đặc tính điện trở động chính là đo điện trở tiếp xúc, nhưng điều khác biệt ở đây là đo đặc tuyến điện trở tiếp xúc của tiếp điểm động và tiếp điểm tĩnh theo hành trình (hoặc thời gian) hoạt động của máy cắt, điện trở được đo và so sánh theo thời gian xuyên suốt trong toàn bộ quá trình đóng hoặc cắt của máy cắt và kết quả đo là một đồ thị đặc tính điện trở động theo thời gian hoặc theo hành trình cắt hoặc đóng của máy cắt : Rđộng = F (hành trình hoặc thời gian). Quan hệ giữa điện trở động với hành trình hoặc thời gian tuân theo dạng hàm số với 2 biến số là điện trở động và hành trình hoặc thời gian.

2. Tầm quan trọng của phép đo đặc tuyến điện trở động

- Bình thường giá trị điện trở tiếp xúc chỉ đánh giá được tiếp điểm chính chịu dòng tải bình thường ở trạng thái tĩnh, hạng mục này chưa đánh giá được trình trạng chất lượng tiếp điểm hồ quang, nhưng độ ăn mòn chủ yếu của tiếp điểm máy cắt lại xảy ra trên tiếp điểm hồ quang do nhiệt và năng lượng được sinh ra bởi hồ quang trong mỗi lần thao tác đóng và cắt máy cắt. Tiếp điểm hồ quang sẽ bị ăn mòn theo thời gian do cắt dòng ngắn mạch, cắt dòng tải.

- Nếu tiếp điểm hồ quang quá ngắn hoặc trong trình trạng xấu, máy cắt hoạt động không tin cậy, giảm dung lượng cắt sự cố máy cắt, bề mặt tiếp điểm chính bị hủy hoại bởi hồ quang do quá nhiệt, điện trở tiếp xúc tiếp điểm hồ quang tăng, trong trường hợp xấu hơn sẽ gây nổ khoang cắt.

- Hạng mục đo điện trở động là hạng mục chính kiểm tra các tiếp điểm dập hồ quang trong máy cắt và cho phép xác định một cách rõ ràng hơn hiện trạng xảy ra trong khoang cắt máy cắt mà các hạng mục thí nghiệm khác không thể hiện rõ hoặc không tìm ra trục trặc, khuyết tật trên bộ tiếp điểm hồ quang.

3. Nguyên lý đo và những vấn đề cần lưu ý khi thực hiện

- Nguyên lý chung là bơm dòng DC và đo điện áp rơi trên 2 cực khoang cắt trong thao tác cắt hoặc đóng, từ đó đặc tuyến điện trở động được xác định theo Định luật Ôm.

- Tính toán điện trở theo thời gian hoặc theo hành trình máy cắt nhờ các thiết bị phân tích chụp sóng và một số phụ kiện lắp thêm. Yêu cầu thiết bị phải có độ nhậy cao, phản ánh chính xác quá trình quá độ chuyển trạng thái của các tiếp điểm chính và tiếp điểm hồ quang trong thời gian ngắn trên đặc tuyến.

- Dòng điện đo phải lớn để có độ phân giải tốt, tránh độ rung cục bộ của tiếp điểm trên đồ thị, đảm bảo lấy được đặc tuyến điện trở động sạch, chính xác, tin cậy, thường dòng đo > 100A đến 1000A, dòng đo lớn phản ánh gần với thực tế vận hành hơn. Khi đo dòng cao cấp có độ chính xác cao hơn, do tín hiệu điện áp và dòng đưa vào máy phân tích cao hơn, hạn chế được các tín hiệu nhiễu không mong muốn, ảnh hưởng đến kết quả đo.

- Có thể đo đặc tính điện trở động đối với cả hai thao tác đóng và cắt. Tuy nhiên, thường đo và đánh giá trong quá trình cắt, tốt nhất là đo ở tốc độ cắt thấp (nếu MC có chức năng thao tác chậm).

- Cách đo đo ít sử dụng hơn đối với quá trình đóng do phần truyền động cơ khí không ổn định bằng quá trình cắt thường có các rung động nhỏ gây nên các sai số không cần thiết trên đặc tính, hơn nữa sự quá độ dòng một chiều tại thời điểm khi tiếp điểm hồ quang tiếp xúc tạo ra các mức nhiễu không mong muốn, không quan sát được rõ nét sự thay đổi điện trở trên đặc tính.

V. Các thông số chủ yếu cần xác định khi đo

1. Các thông số cần thiết

- Đo đặc tuyến điện trở động kết hợp với đo hành trình tiếp điểm động để xác định (chẩn đoán) được 6 thông số trọng yếu sau:

+ Đặc tuyến điện trở tiếp xúc tiếp điểm chính;

+ Đặc tuyến điện trở tiếp xúc tiếp điểm hồ quang;

+ Chiều dài và thời gian tiếp điểm chính;

+ Chiều dài và thời gian tiếp điểm hồ quang;

+ Vị trí tiếp xúc tại phần tiếp điểm hồ quang;

+ Diện tích tích lũy dưới đặc tuyến điện trở (mΩ x mm).

- Phép đo đánh giá được các vấn đề về cơ khí và tuổi thọ về điện của tiếp điểm chính và tiếp điểm hồ quang trong suốt quá trình hoạt động của máy cắt.

Hình 8: Đặc tuyến điện trở động đo được với phần mềm CABA Win

 

2. Cơ sở đánh giá đặc tuyến điện trở động

+ Đặc tuyến điện trở động được đo lần đầu đưa vào vận hành và trong các đợt thí nghiệm định kỳ tiếp theo để so sánh mức độ suy giảm chất lượng tiếp điểm chính và tiếp điểm hồ quang qua thời gian vận hành...

+ Đặc tuyến của các máy cắt cùng loại: Kiểm tra tính bất thường khác biệt đơn lẻ so với các MC cùng đời sản xuất, cùng kiểu kết cấu thiết kế, có cùng loại vật liệu chế tạo như nhau.

+ So sánh với đặc tuyến được cung cấp bởi nhà chế tạo (nếu có).

3. Mô tả kết quả đo của một máy cắt

Các hình ảnh sau đây mô tả số liệu đo đặc tuyến điện trở động của một máy cắt SF6 qua quá trình vận hành và đại tu bảo dưỡng.

Hình 9: Các thông số trên đặc tuyến điện trở động
Hình 10: Máy cắt có các tiếp điểm chính và tiếp điểm hồ quang tốt
Hình 11: Tiếp điểm hồ quang bị khuyết tật qua quá trình vận hành
Hình 12: Tiếp điểm hồ quang trở lại bình thường sau khi đại tu
Hình 13: Tiếp điểm hồ quang bị phóng điện lại bên trong

 

Chỉ tiêu đánh giá về trị số Ra x Da (theo các tài liệu nước ngoài ):

+ Ra x Da nằm trong khoảng 3 ÷ 5 mW.mm: tiếp điểm hồ quang bình thường.

+ Ra x Da lớn hơn > 10 mW.mm: tiếp điểm hồ quang có khuyết tật.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Tài liệu máy cắt của nhà chế tạo ABB, Siemens, Areva…

2- Tài liệu máy chụp sóng của hãng Programma-Thụy Điển: EGIL, TM1600, TM1800, DRM 1800.

3- Tài liệu máy chụp sóng của hãng Doble-USA: TDR 9000.

4- Tài liệu máy chụp sóng của hãng Weis-Đức: SA100.

5- Các phần mềm dùng cho các máy chụp sóng: CABA, T-Doble, BTA.

(theo: EVN)