NI Semiconductor Test Systems

Triển lãm RE & EE Vietnam 2016 – Nhịp cầu đầu tư trong ngành Năng lượng Tái tạo tại Việt Nam

Triển lãm RE & EE Vietnam 2016 – Nhịp cầu đầu tư trong ngành Năng lượng Tái tạo tại Việt Nam

Hướng đến mục tiêu cung cấp năng lượng tái tạo 5% cho thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2020, triển lãm về ngành Tiết kiệm Năng lượng và Năng lượng Tái tạo tại Việt Nam – RE & EE Vietnam 2016 lần đầu tiên được tổ chức tại tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), Hồ Chí Minh từ ngày 09 – 11 tháng 11 năm 2016.

 

Triển lãm RE & EE Vietnam 2015 tại Hà Nội

RE & EE Vietnam 2016 tiếp tục nhận sự hỗ trợ từ các đơn vị uy tín hàng đầu trong ngành như: Hội Khoa học Công nghệ Sử dụng Năng lượng Tiết kiệm và Hiệu quả Việt Nam (VECEA), Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Mạng lưới các doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam (EVBN). Và, lần đầu tiên, triển lãm RE & EE Vietnam nhận được sự hỗ trợ từ Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng Hồ Chí Minh (ECC-HCMC), đơn vị triển khai “Chương trình thí điểm xây dựng cơ chế hỗ trợ đầu tư điện mặt trời trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”. Chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp, hộ gia đình và cơ quan ban ngành tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, cơ quan ban ngành sẽ được lắp đặt một hệ thống điện mặt trời nối lưới 20kWp. Đối với doanh nghiệp và hộ gia đình sẽ hỗ trợ bằng cách mua lại lượng điện hòa lưới với giá là 2.000đ/kWh.

Trên định hướng đó, Triển lãm sẽ mở ra Diễn đàn Kinh doanh chuyên ngành giúp kết nối các doanh nghiệp trong ngành năng lượng mới, tái tạo và tiết kiệm năng lượng quốc tế với các doanh nghiệp trong nước. Theo bà Eliane Vandoorn, Giám đốc Phát triển Kinh doanh khu vực Đông Nam Á, UBM Asia cho biết “Việt Nam đang là thị trường tiềm năng cho đầu tư ngành năng lượng mới. Theo như Chiến lược Phát triển Năng lượng Tái tạo Việt Nam, Năm 2020 sẽ tăng 7% điện tạo ra từ năng lượng tái tạo và tăng 10% vào năm 2030. Do đó, sẽ có nhiều doanh nghiệp trên thế giới muốn đầu tư vào thị trường Việt Nam. Theo xu hướng đó, chúng tôi tiếp tục tổ chức Triển lãm RE & EE Vietnam 2016 nhằm tạo ra cầu nối kinh doanh giúp các doanh nghiệp nước ngoài tìm hiểu về thị trường việt nam, cũng như tạo cơ hội để họ có thể kết nối và hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp trong nước.”

Triển lãm RE & EE Vietnam năm nay sẽ đồng diễn ra với Triển làm Quốc tế Hàng đầu về ngành Cấp Thoát Nước, Công nghệ Lọc Nước và Xử lý Nước Thải tại Việt Nam – Vietwater 2016. Tại Triển lãm, 400 doanh nghiệp đến từ 35 quốc gia sẽ tham gia và trưng bày các công nghệ, giải pháp và sản phẩm hàng đầu trong ngành nước và năng lượng. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng tham gia và chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn hữu ích tại các Hội thảo chuyên đề.

Để biết thêm thông tin chi tiết hơn về Triển lãm, vui lòng truy cập website: www.renergyvietnam.com, hoặc liên hệ:

- Ms. Dung, ĐT: +84 4 6294 3860, email: Vicky.vu@ubm.com (VP Hà Nội)

- Ms. Toàn, ĐT: +84 8 5401 2718, email: toan.ho@ubm.com (VP Hồ Chí Minh).

Nghiên cứu chế tạo thiết bị cầm tay xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tích hợp cảm biến nano sinh học và công nghệ truyền dữ liệu không dây GPRS

Nghiên cứu chế tạo thiết bị cầm tay xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tích hợp cảm biến nano sinh học và công nghệ truyền dữ liệu không dây GPRS

Tóm tắt
Trong sản xuất nông nghiệp, tình trạng sử dụng thiếu kiểm soát và sai mục đích các chất BVTV gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường sinh thái và sức khỏe của con người. Hầu hết các loại thuốc BVTV đều là những hợp chất hữu cơ khó phân hủy, có khả năng tích lũy sinh học, tham gia vào chuỗi thức ăn. Do đó, việc kiểm soát sử dụng thuốc BVTV đặc biệt trong các sản phẩm nông sản đã trở thành một vấn đề có tính toàn cầu. Do đó, bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu phát triển thiết bị cầm tay xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tích hợp cảm biến nano sinh học và công nghệ truyền dữ liệu không dây GPRS.

Hình 1. Mô tả một số kit thử nhanh

1. Cảm biến sinh học là gì?

Năm 1962, lần đầu tiên khái niệm về cảm biến sinh học hiện đại đã được Giáo sư L.C. Clark và C. Lyons đề cập đến trong báo cáo về chế tạo điện cực dùng enzym glucozơ oxidaza để định lượng glucozơ. Từ đó tới nay, chủ điểm cảm biến sinh học đã trở thành một trong những nội dung nghiên cứu nổi bật thu hút được nhiều nhóm nghiên cứu và phát triển công nghệ thuộc nhiều lĩnh vực tham gia.

Một cách cơ bản có thể hiểu cảm biến sinh học hoạt động dựa trên việc đo (trực tiếp hoặc gián tiếp) các tương tác giữa thành phần sinh học (phần từ dò) được gắn kết trên bề mặt cảm biến với tác nhân cần phát hiện (phần tử đích). Thành phần sinh học được sử dụng chủ yếu là enzym, ADN, ARN, kháng nguyên-kháng thể. Mỗi phần tử nhận biết sinh học khác nhau chỉ cho phép nhận biết một loại đối tượng phân tích; nếu không phù hợp với thành phần cảm nhận sinh học thì không có sự thay đổi tín hiệu ở đầu ra của cảm biến. Chính vì vậy mà cảm biến sinh học có độ chọn lọc rất cao. Dựa vào bản chất của thành phần nhận biết sinh học mà có thể phân biệt các loại cảm biến đó là cảm biến enzym (enzyme sensor), cảm biến ADN (DNA sensor), cảm biến miễn dịch (immunosensor) hay cảm biến aptame (aptasensor). Tương tác giữa thành phần sinh học và tác nhân cần phát hiện sẽ gây ra sự thay đổi các tín hiệu hoá-sinh và được nhận biết bằng các kỹ thuật vật lý khác nhau như quang học, điện hóa, khối lượng, từ trường... Đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến độ nhạy và tính hiệu quả của cảm biến. Mỗi kỹ thuật đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể mà có thể áp dụng riêng rẽ các kỹ thuật hoặc kết hợp chúng lại để đem lại hiệu quả tối ưu [1].

Nguyên lý đo điện hóa và nguyên lý quang học là hai cách tiếp cận khá thành công trong chế tạo cảm biến sinh học dân dụng. Sản phẩm que thử nhanh dựa theo nguyên lý chỉ thị màu có thể quan sát được bằng mắt thường là một dạng cảm biến đơn giản mà hiệu quả đã được ứng dụng như sản phẩm thương mại. Que thử dạng kiểm tra nhanh có cấu tạo và cách sử dụng rất đơn giản chỉ dưới dạng một “que nhúng” có kích thước 2x7cm, cho kết quả nhanh từ 5-10 phút, có thể sử dụng để kiểm tra tại hiện trường.

2. Ứng dụng cảm biến nano sinh học trong xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật

Việc kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) bằng các phương pháp và dụng cụ thích hợp không những góp phần đảm bảo an toàn cho sức khỏe con người mà cũng góp phần thúc đẩy việc sử dụng thuốc hợp lý hơn. Về cơ bản, phương pháp phân tích định lượng tiêu chuẩn được sử dụng hiện nay để xác định dư lượng chất BVTV trong các sản phẩm nông sản là phương pháp phân tích sắc ký khí hoặc sắc ký lỏng, sắc ký lỏng hiệu năng cao kết hợp khối phổ (GC/MS, LC/MS hoặc HPLC/MS-MS) sắc ký lỏng kết hợp UV-Vis. Tuy nhiên, các phương pháp này có đặc điểm là thời gian phân tích lâu, phức tạp, đòi hỏi nhiều kỹ năng khi phân tích, không thể thực hiện được ngoài hiện trường. Gần đây, xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme - ELISA (Enzyme-Linked Immunosorbent Assay) đã được ứng dụng để xác định dư lượng các chất BVTV dựa trên nguyên lý kháng nguyên - kháng thể. Kỹ thuật ELISA có độ nhạy cao, thao tác tương đối đơn giản, thời gian phân tích nhanh nhưng nhược điểm đó là kém chính xác trong các nền phức tạp, kém linh hoạt vì phải phụ thuộc vào hóa chất của nhà sản xuất. Do vậy, việc tìm ra các phương pháp phân tích mới thuận tiện hơn là mục tiêu của nhiều nghiên cứu trên thế giới. Các thiết bị cảm biến nói chung và cảm biến sinh học nói riêng với kích thước nhỏ gọn, có độ nhạy, độ đặc hiệu và độ ổn định cao ứng dụng trong phân tích Hóa học và Sinh học đã và đang được kỳ vọng có thể thay thế một phần hay hoàn toàn các phương pháp phân tích truyền thống.

Hình 2. Mô hình nguyên lý của cảm biến sinh học

Năm 1962, mô hình cảm biến sinh học (biosensor) đầu tiên được giáo sư L.C. Clark và C. Lyons giới thiệu ứng dụng trong phân tích hàm lượng glucose. Mô hình cảm biến sinh học (hình 2) có thể được mô tả gồm 2 thành phần cốt lõi đó là phần tử nhận biết sinh học  (bio-regconition elements) được gắn kết với phần tử chuyển đổi tín hiệu vật lý (transducer). Phần tử nhận biết sinh học ở đây có thể là enzyme, kháng nguyên-kháng thể hoặc axit nucleic.

Ưu điểm nổi bật của cảm biến sinh học đó là khả năng phân tích nhanh chóng, có độ nhạy, độ đặc hiệu cao, kích thước nhỏ gọn, tiện dụng, có thể không cần sử dụng chất đánh dấu (label-free), rất ít hoặc không cần sử dụng thêm dung môi-hóa chất khi tiến hành phân tích, đặc biệt thích hợp trong phân tích hiện trường.

Nếu dựa trên sự phân loại phần tử nhận biết sinh học (bio-recognition elements) thì cảm biến sinh học gồm: cảm biến với đầu dò enzyme, cảm biến với đầu dò tế bào, cảm biến với đầu dò kháng thể (cảm biến miễn dịch) và cảm biến với đầu dò ADN. Trong đó, cảm biến với đầu dò enzyme và cảm biến miễn dịch được quan tâm nhiều hơn cả, trong đó cảm biến miễn dịch được chú trọng phát triển bởi tính đặc hiệu cao của liên kết kháng nguyên-kháng thể; từ đo thiết bị phân tích có độ chọn lọc cao, độ nhạy cao và dễ dàng giảm kích thước hoạt động.

Cảm biến miễn dịch: sử dụng kháng thể để nhận biết và liên kết đặc hiệu với từng nhóm chất BVTV giúp khắc phục các nhược điểm trên của cảm biến enzyme. Hơn nữa, phức hợp kháng-nguyên kháng thể có thể phân ly khi sử dụng tác nhân thích hợp; vì vậy, giống như enzyme, thành phần sinh học của cảm biến có thể phục hồi, cho phép giám sát môi trường liên tục theo thời gian thực.

Hình 3. Sơ đồ nguyên tắc của cảm biến miễn dịch

Nguyên lý hoạt động của cảm biến miễn dịch trong phân tích chất BVTV là dựa trên cơ chế chọn lọc hoặc thay thế, trong đó các phân tử chất BVTV tự do sẽ cạnh tranh hoặc thế chỗ các cơ chất khi tương tác với kháng thể hoặc enzyme. Một số kết quả nghiên cứu gần đây liên quan đến cảm biến miễn dịch phân tích thuốc BVTV đó là phân tích thuốc diệt cỏ atrazine, hoạt chất Paraoxon, chlorpyrifos, carbaryl.

Nguyên lý đo tương tác sinh học của cảm biến:  Để đo các tín hiệu tạo ra do sự tương tác của các chất BVTV (chất phân tích) với thành phần sinh học (enzyme, kháng thể,…) cần thông qua bộ phận chuyển đổi tín hiệu (hình 8). Dựa trên nguyên lý của bộ phận chuyển đổi tín hiệu có thể phân biệt dưới dạng điện hóa, quang học, vi cân khối lượng hoặc nhiệt lượng… Trong đó, cảm biến sinh học phân tích chất BVTV theo nguyên lý điện hóa và quang học thường được sử dụng. Một số lượng lớn nghiên cứu đã chọn nguyên lý điện hóa để dò tìm tín hiệu sinh học bởi thiết kế đơn giản, giá thành chế tạo thấp, dễ dàng tích hợp và thu gọn thiết bị [2].

Các nghiên cứu trên thế giới chế tạo các hệ cảm biến nhỏ gọn ứng dụng trong phân tích nhanh tại hiện trường thường sử dụng nguyên lý điện hóa để đo tín hiệu. Các điện cực điện hóa chế tạo ngày một nhanh, rẻ và đồng nhất hơn. Tuy nhiên, để ứng dụng trong cảm biến sinh học đòi hỏi phải biến tính điện cực bằng các vật liệu tương tích sinh học. Đây là một trong những tiêu điểm quan trọng quyết định độ nhạy và độ ổn định của cảm biến sinh học.

3. Thiết kế module truyền dữ liệu không dây GPRS

Một trong những ưu điểm của thiết bị xác định dư lượng thuốc BVTV là khả năng truyền dữ liệu không dây theo thời gian thực (online) về máy chủ webserver. Do đó, module truyền dữ liệu GPRS được thiết kế gọn nhẹ, tiêu thụ năng lượng thấp và tin cậy phù hợp với ứng dụng thiết bị cầm tay. Trong đó, module GPRS được tích hợp vào hệ thiết bị như sau [3]:

Hình 4. Sơ đồ khối tích hợp module GPRS trong thiết bị xác định dư lượng thuốc BVTV

Trong đó, các thành phần chính của module GPRS gồm:

- Khối nguồn (PS): cung cấp các điện áp một chiều (DC) với khả năng cấp dòng điện phù hợp cho các linh kiện điện tử trên mạch

- Khối xử lý trung tâm (CPU): thực hiện các chức năng điều khiển và xử lý trung tâm cho toàn bộ thiết bị. Khối vi điều khiển có hạt nhân là chíp vi điều khiển PSOC CY8C29466.

- Module SIM900A: kết hợp với IC PSOC CY8C29466 tạo thành  DCE của thiết bị Client do đó phần mạch điều khiển ghép nối với mạch SIM900A sẽ đảm nhận việc chuyển đổi tín hiệu từ người sử dụng thành tín hiệu vật lý sẽ được gửi đi trên đường truyền GPRS

- Khối giao tiếp UART: 02 khối UART của PSoC được nối với IC MAX232 nhằm kết nối với hai đối tượng: Cổng RS232 của thiết bị đo, cổng RS232 của module SIM900A

Thông số kỹ thuật
+ Nguồn cung cấp: 5V
+ Hỗ trợ 3 băng tần: EGSM 900, DCS 1800 và PCS 1900
+ Công suất phát: Class 4 (2W) ở dải tần EGSM900,
Class 1 (1W) ở dải tần DCS1800 và PCS 1900
+ Kết nối dữ liệu kiểu GPRS
+ Tốc độ đường xuống của dữ liệu (data downlink
transfer): tối đa là 85,6 kbps  
+ Cổng kết nối truyền thông ngoại vi: chuẩn nối tiếp RS232
+ Kích thước: 10 cm x 10 cm x 3 cm
Hình 5. Module GPRS

4. Phát triển thiết bị xác định dư lượng thuốc BVTV

Hình 6. Mô hình truyền dữ liệu không dây GSM/GPRS của thiết bị xác định dư lượng thuốc BVTV
Hình 7. Sơ đồ khối hệ thống

Thiết bị xác định dư lượng thuốc BVTV được thiết kế với  cảm biến sinh học cung cấp tín hiệu điện thông qua các cực R, C, E của Potentiostat. Potentiostat tổng hợp và tính toán ra nồng độ thuốc trừ sâu, sau đó truyền kết quả ra module GPRS, module này sẽ phát tín hiệu vào không gian. Ta có thể trích xuất số liệu đo thông qua một phần mềm chạy trên máy tính có kết nối internet. Trong đó, mô hình hệ thống kết nối như sau [4]:

Trong đó, thiết bị phần cứng có thể hoạt động độc lập tại hiện trường theo thời gian thực và có khả năng tích hợp với các thiết bị số, khả năng tùy biến cấu hình - nâng cấp đa dạng theo yêu cầu. Trong đó, thông số kỹ thuật của thiết bị xác định dư lượng thuốc BVTV như sau:
- Kích thước: 15x19x26 (cm).
- Khối lượng: 2Kg.
- Dải đo: 1nA ÷ 1000µA.
- Dải điện áp làm việc: -2V ÷ 2V.
- Tốc độ quét : có thể điều chỉnh trong khoảng 10-1000 mV/s với bước quét 10 mV/s.
- Thời gian trễ : có thể điều chỉnh trong khoảng 0-3600 s với bước 1s.
- Lựa chọn được 3 thang hệ số khuếch đại
Gain1: dải đo từ 100µA ÷ 850μA
Gain2: dải đo từ 1A ÷ 100μA
Gain3: dải đo từ 1nA ÷ 1000nA
- Tính năng: Thiết bị dùng để quét CV, nguyên lý cơ bản của kỹ thuật Von-Ampe vòng (CV, Cyclic Voltammetry) là áp một điện thế thay đổi tuyến tính vào điện cực làm việc. Đặc trưng cho sự thay đổi điện thế là vận tốc quét v (V/s). Điện thế điện cực được so sánh với một điện cực chuẩn, phụ thuộc vào thế ban đầu Ei (initial potential), thế kết thúc Ef (final potential) và vận tốc quét v.

5. Kết luận
Bài báo trình bày các kết quả ban đầu về nghiên cứu chế tạo hệ thiết bị phân tích dư lượng thuốc BVTV nhỏ gọn, có khả năng tích hợp 3 modun: cảm biến; xử lý và khuếch đại tín hiệu;  truyền dẫn tín hiệu không dây GSM/GPRS và xây dựng phần mềm thu thập, xử lý số liệu từ trạm quan trắc. Đây có lẽ là 1 trong những đề tài đầu tiên nghiên cứu ứng dụng công nghệ vật liệu, kỹ thuật điện tử-viễn thông trong việc ghép nối cảm biến sinh học với các modun khác để đưa ra được bộ thiết bị phân tích nhanh dư lượng thuốc BVTV trong các sản phẩm nông sản tại Hà Nội.

Lời cảm ơn

Các tác giả xin gửi lời cảm ơn Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội đã tài trợ kinh phí cho đề tài 01C-02/03-2014-2 “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ cảm biến sinh học trên cơ sở vật liệu cácbon nano, có khả năng truyền dữ liệu không dây để phân tích nhanh dư lượng một số thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản” cùng sự hỗ trợ nghiên cứu của các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm KH và CN VN: Viện Khoa học vật liệu, Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Công nghệ thông tin, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành sản phẩm này.

Hình 8. Thiết bị xác định dư lượng thuốc BVTV

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Hải Bình, Nguyễn Lê Huy, Nguyễn Văn Chúc, Ngô Thị Thanh Tâm, Nguyễn Văn Tú, Mai Thị Thu Trang, Nguyễn Tuấn Dung, Nguyễn Vân Anh, Đỗ Phúc Quân, Vũ Đình Lãm, Trần Đại Lâm, Cảm biến sinh học: Một số kết quả nghiên cứu bước đầu tại Viện Khoa học vật liệu. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 2013. 51(2A): p. 128-148.
2.    Dermot Diamond, Shirley Coyle, Silvia Scarmagnani, Jer Hayes, Wireless Sensor Networks and Chemo-Biosensing. Chemical Reviews, 2008. 108(2): p. 652-679.
3.    Thái Quang Vinh, Phạm Ngọc Minh, Nguyễn Tiến Phương, Đỗ Anh Tuấn, Nguyễn Đăng Chung, Nguyễn Thành Long, Chu Ngọc Liêm, “Nghiên cứu hệ thống giám sát môi trường khí từ xa qua mạng điện thoại di động GSM/GPRS”, Hội thảo quốc gia lần thứ XV: Một số vấn đề chọn lọc của Công nghệ thông tin và truyền thông- Hà Nội, 03-04/12/2012.
4. Cảm biến sinh học điện hoá: Nguyên lý, vật liệu và ứng dụng,  NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ, 2014. ISBN: 978-604-913-220-9 (Bộ sách chuyên khảo: Ứng dụng và phát triển Công nghệ cao).

Vũ Thị Thu1, Phạm Quang Ngân, Phạm Ngọc Minh, Phạm Hồng Nam, Đỗ Thị Anh Thư, Trần Đại Lâm
Viện Hàn lâm KH và CN Việt Nam
Tác giả liên hệ: lamtd@ims.vast.ac.vn">lamtd@ims.vast.ac.vn (Trần Đại Lâm)

Số 183 (5/2016)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay

Hiệu quả từ việc lắp đặt camera giao thông bằng hình ảnh

Hiệu quả từ việc lắp đặt camera giao thông bằng hình ảnh

Tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố lớn tình hình giao thông đang ngày càng trở nên phức tạp bởi mật độ phương tiện gia tăng, ý thức tham gia giao thông của người dân chưa cao, tổ chức giao thông chưa đáp ứng kịp với sự phát triển của xã hội. Để giải quyết tình trạng này, nhiều công ty trong và ngoài nước triển khai ứng dụng thành công hệ thống  camera giám sát thông minh bằng hình ảnh mang lại hiệu quả tích cực trong việc giảm thiểu ùn tắc và nâng cao ý thức người tham gia giao thông.

Hình ảnh xe vi phạm đi không đúng làn đường quy định

Trên thực tế ở nước ta, việc lắp đặt hệ thống giám sát giao thông bằng hình ảnh và camera đã được thực hiện từ lâu và đang không ngừng được triển khai rộng. Điều này được thể hiện khi Ủy ban An toàn giao thông quốc gia (Bộ Giao thông Vận tải) là chủ đầu tư đã trực tiếp đứng ra đấu thầu quốc tế gói thầu B7 về việc mua sắm, lắp đặt hệ thống camera giám sát trên hai tuyến thí điểm Hà Nội - Vinh và Tp. Hồ Chí Minh - Cần Thơ trên tuyến quốc lộ 1A.

Cho đến nay, nhiều dự án đã được thông qua như: hệ thống giám sát an toàn giao thông bằng hình ảnh tuyến quốc lộ 1A đoạn Pháp Vân - Ninh Bình chủ đầu tư C63-C67/TC7; Đề án 617/2009/QĐ-TTG về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự an toàn giao thông; Đề án 617, Xây dựng Hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trên Quốc lộ trọng điểm. Cục CSGT C67-BCA; Xây dựng trung tâm thông tin chỉ huy CSGT C67… các dự án và đề án đã mang lại được hiệu quả thiết thực, tích cực trong việc giữ gìn an toàn giao thông.

Theo số liệu báo cáo, thời gian thí điểm năm 2012, gần 01 tháng tại các địa phương như Long An, Nghệ An, Hà Nội, Thanh Hóa… đã ghi nhận 1.660 trường hợp vi phạm, số tiền phạt thu về được hơn 1,3 tỷ. So với năm 2012, thì năm 2015 qua hệ thống camera giám sát đã phát hiện và xử lý gần 4.000 phương tiện vi phạm. Đáng chú ý, số lượng ô tô, xe máy bị xử phạt nguội, khoảng 2.000 xe.

Được thử nghiệm từ tháng 10/2014, tại Hà Nội đã lắp đặt gần 450 camera phục vụ công tác đảm bảo an toàn giao thông. Trong khu vực nội thành Hà Nội,    camera được lắp đặt, ghi hình tại các nút giao thông trọng điểm, các tuyến như Thăng Long -  Nội Bài, Nhật Tân - Nội Bài mới, quốc lộ 5 và 9 tuyến đường ra vào trung tâm thành phố… Sau khi được chính thức đưa vào hoạt động từ tháng 12/2015, hệ thống camera là công cụ hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu chống ùn tắc, giảm tai nạn giao thông, hình ảnh do camera ghi lại được truyền về trung tâm 24/24h.

Những điểm lắp camera phạt nguội tại Hà Nội Có thể nói, hệ thống camera giám sát đã mang lại hiệu quả rất thiết thực trong việc quản lý an toàn giao thông. Nó không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao, chủ động công nghệ trong việc lắp đặt cũng như mang lại tính tích cực cho việc phát triển kinh tế, xã hội.

Theo ông Đinh Thành Hưng - Giám đốc dự án Công ty CP phát triển và chuyển giao công nghệ Mắt Thần cho biết: “Hệ thống giám sát bằng camera tự động hiện nay được kết hợp nhiều công nghệ tích hợp, kết hợp tự động hóa. Nhưng do chi phí lắp đặt cao nên vẫn có gặp nhiều khó khăn trong các cơ chế cũng như vận hành”.

Ông Hưng cũng cho rằng, trong thời gian ngắn, với lượng kinh phí hạn hẹp, các đơn vị, địa phương, nhà thầu đã có nhiều cố gắng xây dựng được một hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông lần đầu tiên triển khai trên tuyến quốc lộ ở Việt Nam do chính nhà thầu trong nước triển khai tích hợp, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thiếu đồng bộ. Khi đưa vào vận hành đã đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ, thu được nhiều kinh nghiệm phát triển ứng dụng rộng rãi hệ thống trong cả nước.

Minh họa hình ảnh truy xuất dữ liệu xe vi phạm lỗi tín hiệu đường giao thông

Hiệu quả của việc lắp đặt hệ thống camera giao thông bằng hình ảnh là một việc làm rất thiết thực và cần thiết của một đất nước phát triển. Nó không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà cũng giảm thiểu được rất nhiều trong việc theo dõi thông minh và điều khiển giao thông minh qua dữ liệu hình ảnh quan trắc tự động hóa ngày càng trở nên tiện lợi và đơn giản.

Hà An

Số 183 (5/2016)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay

Honeywell và Petrovietnam ký kết hợp tác trong khuôn khổ chuyến thăm của ông Barack Obama tới Việt Nam

Honeywell và Petrovietnam ký kết hợp tác trong khuôn khổ chuyến thăm của ông Barack Obama tới Việt Nam

Ngày 23/5/2016, Công ty Honeywell và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) đã ký kết thỏa thuận hợp tác cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn và tiếp tục tiến hành các hoạt động đào tạo cho Petrovietnam. Thỏa thuận được ký kết trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức tới Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, với sự chứng kiến của các đại diện của Chính phủ Hoa Kỳ - Việt Nam và các cán bộ cấp cao nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác cho ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.

Lễ ký kết có sự chứng kiến của ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI Việt Nam

Theo các điều khoản trong bản thỏa thuận, Honeywell sẽ có cơ hội cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp cho Petrovietnam và các công ty con của tập đoàn cho những dự án đầu tư trong tương lai cũng như hỗ trợ Petrovietnam trong thiết kế kĩ thuật, và nghiên cứu tính khả thi về công nghệ và kinh tế trong các dự án của các cơ sở sản xuất.

“Mối quan hệ hợp tác ngày càng tốt đẹp giữa Honeywell và Petrovietnam có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với hai tập đoàn mà còn với hai quốc gia”, bà Mai Trang Thanh, Chủ tịch Honeywell khu vực Đông Dương cũng cho biết: “Chúng tôi vô cùng vinh dự khi những công nghệ và dịch vụ tiên tiến của chúng tôi có thể góp phần giúp Việt Nam phát triển thành một quốc gia an toàn hơn, an ninh hơn và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn.”

"Honeywell là một đối tác quan trọng của các công ty dầu khí tại Việt Nam trong hai thập kỷ qua, và biên bản ghi nhớ đánh dấu một cột mốc quan trọng mới trong mối quan hệ này”, ông David Low, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc khu vực Châu Á Nhóm Công nghệ và Vật liệu chuyên dụng của Honeywell cho biết.

Hiện nay, Honeywell đã và đang cung cấp các công nghệ quá trình, các giải pháp điều khiển và tự động hóa, các dịch vụ quản lí công nghệ, các giải pháp an toàn cho các dự án thăm dò khai thác và chế biến dầu khí của Petrovietnam cũng như các dự án của các công ty con của tập đoàn như Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (Bien Dong POC), Liên doanh thăm dò và khai thác dầu khí Việt Nam - Liên bang Nga (Vietsovpetro), Nhà máy lọc dầu Dung Quất, và Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV Gas).

PV

Đẩy mạnh tự động hóa để phát triển kinh tế xã hội Thủ Đô

Đẩy mạnh tự động hóa để phát triển kinh tế xã hội Thủ Đô

Tại Hội nghị khoa học Tự động hóa với phát triển kinh tế xã hội Thủ đô được Hội Tự động hóa Hà Nội phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội tổ chức tại khu công nghệ cao Láng Hòa Lạc Hà Nội ngày 7/5/2016, các chuyên gia tham dự Hội nghị đã đưa ra những tiềm năng và những phương hướng đổi mới quan trọng của ngành Tự động hóa trong sự phát triển kinh tế và xã hội của Thủ đô.

Các nhà khoa học tham quan xưởng đèn Led của Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao công nghệ và Giám định công nghệ trong khuôn khổ hội thảo

Hội nghị được tổ chức trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng hơn, với nhiều Hiệp định Thương mại đã được ký kết, không chỉ tạo ra những cơ hội mà còn đứng trước những thách thức không nhỏ; đòi hỏi những nỗ lực rất lớn của toàn xã hội, nhất là đối với khối các doanh nghiệp và trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ.

Báo cáo cho thấy, Hội Tự động hóa thành phố Hà Nội trong những năm qua đã tham gia triển khai nhiều đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ. Các đề tài, dự án cấp thành phố như: nghiên cứu thiết kế, xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống tự động hóa xưởng nấu bia; nghiên cứu thiết kế và chế tạo các thiết bị nhận dạng tín hiệu sinh trắc học; nghiên cứu xây dựng phần mềm tích hợp trên ANSYS để tự động hóa tính toán thiết kế kết cấu thép cẩu trục công dụng chung,…

Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Thủ đô Hà Nội hiện nay đang đứng trước những thách thức cần giải quyết như tắc nghẽn và mất an toàn giao thông, ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, tiết kiệm năng lượng,... Những thách thức này, trong giai đoạn tiếp theo, ở lĩnh vực Tự động hóa, Hội Tự động hóa Hà Nội tiếp tục đẩy mạnh các nhiệm vụ trọng tâm mang tính chiến lược của đất nước bao gồm việc nghiên cứu chuyển giao công nghệ các sản phẩm hàm lượng khoa học cao, tiết kiệm năng lượng, chú trọng đến năng lượng tái tạo và năng lượng sạch. Trong đó đặc biệt chú tâm đến vấn đề từng bước hoàn thiện và xây dựng hệ thống SCADA cho các trạm điện và nghiên cứu triển khai mô hình SCADA riêng cho trạm biến áp do Hà Nội sản xuất; nghiên cứu tìm ra các sản phẩm hoàn thiện mang tính cơ điện tử cao như mô hình quản lý thu vé cho hệ thống giao thông công cộng, chế tạo dây chuyền sản xuất thực phẩm an toàn, xử lý môi trường; xây dựng các trung tâm gia công cơ khí trình độ cao và tạo ra các sản phẩm mang tính công nghệ phục vụ các ngành công nghiệp dân dụng, xuất khẩu chíp điện tử,…

Song để đạt được những mục tiêu trên đặc biệt là hoàn thành nhiệm vụ khoa học và công nghệ đến năm 2020 cũng gặp phải khó khăn nhất định về cơ chế chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích và thúc đẩy nghiên cứu của các nhà khoa học. Hay như TS. Lê Xuân Rao, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho rằng “Nhiều nhà khoa học giỏi về nghiên cứu nhưng thiếu về kinh nghiệm trong việc triển khai ứng dụng ra bên ngoài”.

Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển hội nhập, nhiều vấn đề được đặt ra cho các nhà khoa học là làm sao để có thể cải thiện cũng như nâng cao chất lượng các sản phẩm khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu hiện nay. Bà Nguyễn Minh (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng hiện nay chúng ta đang thiếu tập trung, dàn trải các vấn đề. Các vấn đề có thể tập trung như: nghiên cứu xử lý vấn đề rác thải, ô nhiễm môi trường, tự động hóa hệ thống giao thông bài bản, quy hoạch phải hợp lý; xử lý an toàn vệ sinh thực phẩm,… Ngoài ra, kiến nghị đến các cơ quan quản lý nhà nước về khoa học công nghệ trong đổi mới hệ thống quản lý về khoa học công nghệ; đổi mới căn bản việc xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và đổi mới cơ chế quản lý tài chính. Bên cạnh đổi mới về quản lý, các tổ chức khoa học công nghệ cũng cần tập trung đến phát triển nguồn nhân lực, phát triển thị trường ứng dụng khoa học công nghệ và tăng cường hợp tác trong và ngoài nước về khoa học công nghệ.

 Phát biểu tại hội nghị, GS.TS .Vũ Hoan đánh giá cao việc tổ chức hội nghị của Hội Tự động hóa Hà Nội. Bởi, thông qua đây, Hội Tự động hóa Hà Nội sẽ thu góp được nhiều ý kiến bổ ích, giúp Hội có những định hướng tốt hơn trong thời gian tới.

Tổng kết Hội nghị, TS. Lê Xuân Rao đã khái quát những vấn đề được nêu và cho rằng đó là những đóng góp thiết thực, cụ thể và có giá trị, giúp hội nghị thành công. Trên cơ sở đó, Sở Khoa học và Công nghệ cũng như Hội Tự động hóa Hà Nội sẽ hoàn thiện định hướng và những nội dung cho hoạt động thời gian tới, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội, cũng như giúp cho quá trình chỉ đạo của Sở được sâu sát hơn.

Nhằm thực hiện chủ trương đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ theo hướng hiện đại, gắn với thực tiễn, Sở Khoa học công nghệ Hà Nội cùng với thành phố đã thành lập Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao công nghệ và Giám định công nghệ, với máy móc, thiết bị hiện đại, dù mới được vận hành trong vòng nửa năm nhưng đã đáp ứng được nhiều yêu cầu phát triển về khoa học công nghệ cho Thủ Đô.

Hương Duyên

Số 183 (5/2016)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay

Chung kết Robocon 2016 - Lạc Hồng đăng quang ngôi Vô địch

Chung kết Robocon 2016 - Lạc Hồng đăng quang ngôi Vô địch

Tối ngày 14/5/2016, tại Trung tâm Thể dục Thể thao tỉnh Ninh Bình, đêm Chung kết Cuộc thi Sáng tạo Robot Việt Nam 2016 đã chính tức diễn ra với chiến thắng thuộc về đội LH - FF Trường ĐH Lạc Hồng.

Hai đội LH - FF đoạt ngôi Vô địch và LH - ACE đoạt giả Nhì của Trường ĐH Lạc Hồng bước lên bục vinh quang

Trong đêm Chung kết, các đội tham gia thi đấu đã cống hiến hết mình để có được những trận đấu hay và hấp dẫn, làm thỏa mãn sự đam mê của không chỉ khán giả có mặt cổ vũ tại Trung tâm Thể dục Thể thao tỉnh Ninh Bình mà còn của toàn thể người hâm mộ Robocon cả nước thông qua màn ảnh nhỏ. Những giây phút vô cùng hồi hộp, thậm chí làm thót tim người xem ở những thời điểm giành chiến thắng Chai - yo! cũng như những cuộc rượt đuổi của các Eco Robot giữa các đội thi đã thật sự tạo nên một bầu không khí Robocon 2016 căng thẳng nhưng cũng không kém phần sôi động, náo nhiệt hơn bao giờ hết.

Sau thời gian ngắn ngủi,  đầy kịch tính để tìm ra nhà Vô địch giữa hai đội LH - FF và LH - ACE của ĐH Lạc Hồng. Kết quả, LH - FF đã giành chiến thắng thuyết phục, bước lên ngôi Vô địch với tốc độ chóng mặt ở giây thứ 19 trước LH - ACE. Lại một lần nữa, sau 1 năm đầy tiếc nuối ở mùa giải 2015, ĐH Lạc Hồng lại được xướng lên ở ngôi vị cao nhất trong Cuộc thi Sáng tạo Robot Việt Nam 2016.

Năm 2016 cũng là năm đánh dấu mốc 15 Cuộc thi Sáng tạo Robot Việt Nam được tổ chức cũng là năm thứ 15 Toyota đồng hành cùng cuộc thi. Từ cuộc thi, nhiều thế hệ trẻ đã được tiếp thêm ngọn lửa đam mêm đối với lĩnh vực robot nói riêng và khoa học công nghệ nói chung. Không ít người trong số đó đã trưởng thành và đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung của Việt Nam.

Các giải thưởng của Robocon Vietnam 2016

HA TINH TECH DHA Cao đẳng nghề công nghệ Hà Tĩnh

Giải công nghệ

SVI_02 Trường Đại học Trần Đại Nghĩa

Giải ý tưởng

LH - ACE Trường Đại học Lạc Hồng

Giải  Eco Robot xuất sắc

LH - SEA Trường Đại học Lạc Hồng

Giải  Hybrid Robot xuất sắc

CĐHN_ 03 Cao đẳng nghề Cơ điện Hà Nội

Giải phong cách

SVI_02 Trường Đại học Trần Đại Nghĩa

Giải thiết kế robot ấn tượng

HA TINH TECH DHA Cao đẳng nghề công nghệ Hà Tĩnh

Giải triển vọng

LH - F Trường Đại học Lạc Hồng

Giải Ba

SVI_02 Trường Đại học Trần Đại Nghĩa

Giải Ba

LF - ACE Trường Đại học Lạc Hồng

Giải Nhì

LH - FF Trường Đại học Lạc Hồng

Giải Nhất