29590 ban_at_semiconductor_540x150

Giáo dục đại học trong kỷ nguyên của Cách mạng công nghiệp 4.0

Giáo dục đại học trong kỷ nguyên của Cách mạng công nghiệp 4.0
Thế giáo dục đại học phải như thế nào trong kỷ nguyên của CMCN 4.0. Tôi cho rằng đại học cần phải tạo môi trường và khuyến khích phát triển tính tò mò và khả năng tự học. Có như thế sinh viên mới có khả năng đáp ứng được những thay đổi nhanh chóng trong môi trường công việc của họ và không bị đào thải bởi xã hội. 
 
Saudi Arabia vừa tặng quyền công dân đầu tiên trên thế giới cho một robot tên Sophia có trí tuệ nhân tạo. Sophia có khả năng trả lời những câu hỏi hóc búa của một MC không kém phần hóm hỉnh như một con người có trí thức. Thông tin này làm ngạc nhiên rất nhiều người không trong ngành IT. Là một nhà giáo dục đại học, tôi đã từng đặt câu hỏi ‘Giáo dục đại học nên thay đổi như thế nào để đáp ứng sự thay đổi mau chóng trong xã hội, trong thị trường lao động nhanh đến như vậy?’ Đây cũng là câu hỏi mà hầu như các nhà GD ĐH ở Mỹ ở mọi ngành tranh luận sôi nổi bấy lâu nay. Tuy nhiên kể cả ở Mỹ, chương trình đào tạo đại học vẫn chưa thay đổi đủ nhanh để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Ở Việt Nam muốn có thay đổi trong chương trình đào tạo lại càng khó hơn nhiều. Nhưng đây là một việc làm rất cấp bách vì phải cần ít nhất 4 năm mới đào tạo được một kỹ sư hay cử nhân. Khi sinh viên ra trường thì thị trường lao động có thể đã thay đổi rất nhiều rồi. Tôi xin đưa ra một thí dụ điển hình.
 
Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) là não bộ của robots thì vẫn chưa đưa vào chương trình đào tạo kỹ sư phần mềm ở đa số đại học trên thế giới. Muốn học thì phải lên cao học ở bằng MS hay PhD. Control theory trong mechatronics, kiến thức điều khiển các cử động của robots thì phải chờ đến năm cuối đại học trong ngành Mechanics, chuyên ngành Mechatronics mới học. Đó là hai thành phần cơ bản cho phát triển robots mà phải chờ đến năm cuối của đại học thì may ra biết được một tí xíu trong chương trình đào tạo kỹ sư chuyên ngành ở Mỹ. Tại sao vậy? Tại vì những người thiết kế chương trình đào tạo là những người đã già và bảo thủ nghĩ rằng sinh viên cần phải có những kiến thức cơ bản khác trước khi được học những cái mới. Câu hỏi quan trọng là những kiến thức cơ bản ấy có còn thật sự cần thiết trong tương lai không hay nó có thể được thay thế bởi những kiến thức khác hay không? Thí dụ trong thế hệ của tôi thì làm toán phải biết lấy căng, cộng, trừ, nhân, chia bằng tay nhanh chóng. Bây giờ kiến thức ấy thật sự không cần thiết. Bạn có cảm thấy kể cả Mỹ vẫn chưa chuẩn bị kịp cho CMCN 4.0 không?
Thế giáo dục đại học phải như thế nào trong kỷ nguyên của CMCN 4.0. Tôi cho rằng đại học cần phải tạo môi trường và khuyến khích phát triển tính tò mò và khả năng tự học. Có như thế sinh viên mới có khả năng đáp ứng được những thay đổi nhanh chóng trong môi trường công việc của họ và không bị đào thải bởi xã hội. Tôi xin chia sẻ một thí dụ điển hình mà tôi đã áp dụng cho Takara, đứa con trai của mình.
Takara năm nay là đầu năm 3 ở đại học và đang học Mechanics (cơ khí). Trong chương trình học thì Takara vừa xong Vật lý và mới bắt đầu vào chuyên ngành cơ khí. Lập trình trong chương trình đào tạo thì có chút ít Mathlab. Tôi khuyên Takara đừng quá chú trọng điểm số miễn sao giử trên 3.0 nếu muốn học tiếp cao học. Thời gian còn lại lên mạng học hỏi tìm tòi làm những gì thỏa tính khám phá của mình. Vừa rồi Takara làm tôi rất ngạc nhiên và tự hào là đã khuyên con phát triển đúng hướng.
Takara lên mạng tự học AI – a deep convolutional neural network (thật sự tôi không biết nó là gì). Trong cuộc thi Hackathon Machine Learning Division ở Đại học Utah, trong 24 giờ một mình cậu ta thiết kế thiết bị IoT chỉ gồm một board gắn với một web cam chiếu vào điện thoại di động của cậu ấy rồi coding dạy nó nhận dạng phụ nữ đẹp theo đánh giá của cậu ta trong 4 hrs. Xong dùng thiết bị này vào trang Tider (Online dating web site) để thử nghiệm. Thiết bị đánh giá 85% chính xác so với đánh giá của Takara. Thế là Takara có thể lọc các phụ nữ đẹp trong web site một cách nhanh chóng! Với thành quả này Takara đứng hạng hai trong cuộc thi nhưng đó không phải là vấn đề quan trọng. Điều tôi muốn nêu ở đây là tất cả những kiến thức này Takara tự học và không có trong chương trình đào tạo. Với trình độ của một sinh viên đầu năm 3 thì không thể làm được điều này.
Câu hỏi đặt ra: Chất lượng đầu ra của giáo dục đại học nên là gì? Có nên là những tấm bằng cử nhân, kỹ sư với những lý thuyết và điểm số cao hay là những em dám tìm tòi, dám học hỏi, dám thất bại?
- Giáo sư Trương Nguyện Thành -

Yaskawa Electric lần thứ hai đạt giải thưởng “Top 100” công ty phát kiến xuất sắc nhất toàn cầu và giải thưởng “Top 100” công ty về sự phát triển đa dạng

Yaskawa Electric lần thứ hai đạt giải thưởng “Top 100” công ty phát kiến xuất sắc nhất toàn cầu và giải thưởng “Top 100” công ty về sự phát triển đa dạng

Yaskawa Electric được thành lập năm 1915, là tập đoàn hàng đầu thế giới trong sản xuất và cung cấp các sản phẩm trong lĩnh vực biến tần, truyền động điện, robot công nghiệp trên thế giới có trụ sở chính tại Kitakyushu, Nhật Bản.

Các sản phẩm của Yaskawa là sự kết hợp giữa thành tựu nghiên cứu về cơ và điện tử kết tinh trong cùng một sản phẩm. Yaskawa là công ty đầu tiên đưa ra khái niệm “Mechatronics – Cơ điện tử” nổi tiếng và giờ đây đã trở thành một lĩnh vực mũi nhọn.

Minhchứng cho sự đổi mới và phát triển không ngừng của Yaskawa trong hơn 100 năm qua là rất nhiều giải thưởng danh giá đã đạt được như:Deming prize, V1000 Award for Most Innovative Product, Ohm Technology Award, giải thưởng nhà cung cấp biến tần số 1 thế giới trong 2 lần liền (năm 2004 và 2006) do tạp chí uy tín Control Engineering magazine trao tặng, …

Trong năm 2017 Yaskawa Electric đã vinh dự được trao hai giải thưởng danh giá khác là:

-Giải thưởng “Top 100 Global Innovators”

(Top 100 công ty phát kiến xuất sắc nhất toàn cầu)

- Giải thưởng “Diversity 100 Awards”

(Top 100 công ty về sự phát triển đa dạng).

Giải thưởng “Top 100 Global Innovators” do tổ chức Thomson Reuters thực hiện dựa trên các số liệu về đăng ký bản quyền phát minh sáng chế, tầm ảnh hưởng của các phát minh sáng chế, … Nằm trong danh sách này các công ty, tập đoàn hàng đầu thế giới như: Apple, IBM, Honda, Canon, Emerson Electric, GE, Google, Microsoft, Intel, Samsung, Renasas, Toyota, … Đángchú ý Yaskawa Electric là một trong số rất ít các công ty về tự động hóa công nghiệp có mặt trong danh sách này (chi tiết xem: http://top100innovators.stateofinnovation.com/)

Vinh dự lần thứ 2 được trao giải thưởng uy tín này là sự ghi nhận rất đáng tự hào về sự cam kết đổi mới công nghệ không ngừng của Yaskawa Electric nhằm duy trì vị trí là nhà sản xuất hàng đầu thế giới vể các sản phẩm biến tần, động cơ servo, bộ điều khiển chuyển động và các hệ thống robot.

Giải thưởng “Diversity 100 Awards” do Bộ kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản trao tặng cho 100 công ty đáp ứng tốt nhất các tiêu chuẩn về sự đa dạng trong môi trường làm việc: tính linh hoạt nơi làm việc, đa dạng trong tổ chức nhân sự về quốc tịch, vị trí quản lý, giới tính, đào tạo, … Giải thưởng này phản ánh nỗ lực của Yaaskawa Electric trong việc tổ chức thực hiện nguồn lực lao động phong phú trong phát triển tập đoàn, nghiên cứu phát kiến, …ở quy mô toàn cầu.

Để biết thêm chi tiết vềYaskawa và các sản phẩm củaYaskawa, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ:

Công ty trách nhiệm hữu hạn Yaskawa Electric Việt Nam

Văn phòng Hà Nội

Tầng 2, Hòa Bình Somerset, 106 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

Điện thoại: +84 4 36343953

Di động: +84 0902 669 448

http://www.e-mechatronics.com

Văn phòng Hồ Chí Minh

Phòng  1904A,  tầng  19,  Centec  Tower, 72-74 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 6, quận 3, TP Hồ Chí  Minh

Điệnthoại: +84 838228680

Fax: +84 838228780

Hiểu đúng và chọn bước đi phù hợp trong “cơn bão” cách mạng công nghiệp 4.0

Hiểu đúng và chọn bước đi phù hợp trong “cơn bão” cách mạng công nghiệp 4.0

Lời Tòa soạn 

Khái niệm Industrie 4.0 hay là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4) lần đầu tiên đề cập trong bản Kế hoạch hành động chiến lược công nghệ cao được chính phủ Đức thông qua vào năm 2013. Tiếp đến, ngày 20/01/2016, tại Thụy Sĩ, Diễn đàn kinh tế thế giới được khai mạc với chủ đề “Làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Từ đó đến nay, thông tin về cMcn4 luôn tràn ngập trên nhiều diễn đàn, ở nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội, ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt nam thậm chí còn được cho là “nghe nói nhiều hơn ở các nước phát triển”.

Vấn đề quan trọng là chúng ta hiểu rõ về cMcn4 đến đâu và lựa chọn của chúng ta như thế nào là hợp lý để nắm bắt được cơ hội mà thành quả của CMCN4 mang lại?
Trong số Tạp chí tháng 7 này, Ban biên tập Tạp chí Tự động hóa ngày nay đăng tải một số bài báo, một số ý kiến trả lời phỏng vấn xung quanh câu chuyện của cMcn4 để có thêm góc nhìn hữu ích 

Bài trả lời phỏng vấn của PGS.TS.Hoàng Minh Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
 
PV: Thưa PGS.TS. Hoàng Minh Sơn, ông nhìn nhận như thế nào đối với cách hiểu về CMCN4 trên nhiều diễn đàn tại Việt Nam hiện nay?

PGS.TS. Hoàng Minh Sơn: Hiện nay các diễn đàn về công nghiệp 4.0 rất nhiều, nếu chúng ta đọc và nghe nhiều sẽ có được cái nhìn khá toàn diện. Có những bài viết tổng quan khá sâu, cũng có bài viết hời hợt. Có người chỉ đi sâu về một thứ, chẳng hạn như có người nói về IoT, có người nói về khoa học dữ liệu, có người nói về trí tuệ nhân tạo. Để hiểu được một cách toàn diện phải xuất phát từ nguồn gốc của khái niệm và xem xét quá trình phát triển về sau của nó như thế nào.

PGS.TS.Hoàng Minh Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (Ảnh nguồn CCPR-HUST

PV: Cụ thể là như thế nào, thưa ông? 

PGS.TS. Hoàng Minh Sơn: Về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể khái quát như sau: Công nghiệp 4.0 xuất phát từ chữ Industrie tại Đức và bắt nguồn từ sản xuất công nghiệp. Ở đây chúng ta không bàn đến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, thứ hai mà lấy xuất phát điểm từ cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Trước năm 1968, khi nói đến công nghệ tự động hóa, hầu hết các hệ thống điều khiển sử dụng các bộ điều khiển tương tự (cho điều khiển liên tục) cũng như các thiết bị PLD và rơ le (cho điều khiển rời rạc, điều khiển logic). Nhưng từ năm 1969 và những năm sau chúng ta đã biết đến tự động hóa ứng dụng công nghệ số, gắn liền với nó là các hệ thống điều khiển phân tán tích hợp cao DCS (Distributed Control System) và thiết bị điều khiển lập trình PLC (Programmable Logic Controller).

Tín hiệu điều khiển lúc này đã được số hóa và được xử lý trong các bộ điều khiển dưới dạng dữ liệu (nhị phân). Với sự phát triển của công nghệ bus trường, thiết bị điều khiển được kết nối trực tiếp với các thiết bị đo và thiết bị chấp hành qua công nghệ truyền thông số. Các bộ điều khiển cũng được kết nối với cấp điều khiển giám sát và cấp điều hành sản xuất qua mạng LAN. Có thể nói các chức năng tự động hóa đã được tích hợp toàn diện, nhưng đây chưa phải là bước nhảy để đi đến công nghệ 4.0. Vậy bước đột phá đánh dấu CMCN4 ra đời là từ khi nào? 

Trước đây, chúng ta nói tới hệ thống tích hợp toàn diện tuy nhiên chỉ là tích hợp về mặt chức năng và về mặt không gian, giữa các thiết bị điều khiển, thiết bị chấp hành, các thiết bị đo, chứ chưa nói đến tích hợp về mặt thời gian và quy trình. Để có hệ thống sản xuất khép kín phải bắt nguồn từ khâu thiết kế sản phẩm, lập kế hoạch sản xuất; thiết kế chi tiết cho hệ thống máy móc đến đưa vào vận hành hệ thống, bảo trì hệ thống; sản xuất xong đến khâu dịch vụ sản phẩm, rồi quay lại cải tiến sản phẩm để phát triển sản phẩm.

Sự đột phá chính là người ta đã tích hợp được các bước này với nhau. Trước đây, khi thiết kế dùng máy tính để tạo nên bản vẽ, việc số hóa là chỉ phục vụ cho thiết kế trên máy tính và chỉ phối hợp giữa những người trong cùng nhóm thiết kế. Hay nói cách khác, máy tính chỉ hỗ trợ khâu thiết kế (Computer Aided Design - CAD). Các dữ liệu đó chưa đủ khả năng truyền tải để máy móc hiểu các quy trình tiếp theo. Hay máy tính hỗ trợ chúng ta trong quá trình sản xuất tự động hóa (Computer Aided Manufacturing - CAM). Nhưng các bước này vẫn rời rạc, con người vẫn phải hỗ trợ cho nhau. Nhưng hiện nay, giao diện giữa các quy trình này không còn là các bản cứng nữa mà được số hóa thực sự giúp giảm rất nhiều công sức, thời gian, chuyển đổi. Ví dụ dữ liệu thiết kế đã được số hóa để đưa vào lập kế hoạch, từ lập kế hoạch lại được số hóa để đưa vào lập trình tự động hóa khâu sản xuất, cùng từ dữ liệu đó để được đưa vào bảo trì hệ thống, dịch vụ cho sản phẩm. Tất cả các cơ sở dữ liệu đó đã được đưa vào nền tảng chung để giảm thời gian, công sức và quan trong hơn nữa là giảm sai sót. Hệ thống sản xuất ngày nay không những được tích hợp theo không gian mà còn theo thời gian, tích hợp giữa các công đoạn trong chu trình sản phẩm.

Số hóa không chỉ là để lưu trữ, truyền tải và xử lý thông tin trên máy tính, trên các bộ điều khiển, mà ở đây thực sự là tương tác thông tin giữa con người với máy, giữa máy với máy. Ở đây, máy tính, bộ điều khiển hay robot có thể diễn giải được, có thể hiểu được thông tin chứa đựng trong khối lượng rất lớn dữ liệu trao đổi từ nhiều thiết bị kết nối với nhau và từ các quy trình khác nhau để đưa ra các quyết định, các thao tác cần thiết. Và khi đó những công nghệ như Big Data, IoT, trí tuệ nhân tạo bắt đầu được nói tới hay được quan tâm trở lại nhiều hơn. Đây chính là xuất phát điểm cho các nền tảng công nghệ của CMCN4. 

PV: Vậy theo ông, Việt Nam nên tiếp cận thành quả của CMCN4 như thế nào cho hiệu quả?

PGS.TS. Hoàng Minh Sơn: Công nghiệp 4.0 xuất phát từ sản xuất công nghiệp nhưng thực tế của thế giới cho thấy dựa trên nền tảng công nghệ của công nghiệp sản xuất thì thành quả của nó đã được mở rộng ra ngoài tầm công nghiệp và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội như Y tế,du lịch, nông nghiệp, giao thông,...

Với Việt Nam, chúng ta nên lựa chọn phát triển những lĩnh vực công nghệ nền tảng có thế mạnh, đồng thời đầu tư không quá lớn, ví dụ như Toán học, Công nghệ thông tin và Truyền thông, Điều khiển học để đi vào khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo,... để tạo ra những phần mềm làm cho các hệ thống thông minh hơn. Tôi tin là những lĩnh vực này có thể giúp Việt Nam tiến nhanh trong xu thế của CMCN4.

PV: Để tham gia vào CMCN4 đòi hỏi nguồn nhân lực đủ đáp ứng, vậy thì ở góc độ của một người quản lý về đào tạo, ông thấy chúng ta cần làm gì?
PGS.TS. Hoàng Minh Sơn: Để tiếp cận tốt với CMCN4 thì cốt lõi vẫn phải là nguồn nhân lực chất lượng cao. Vấn đề mấu chốt trong đào tạo là phải trang bị cho người học kiến thức nền tảng vững chắc và khả năng thích ứng, do đó chúng ta phải chú trọng những môn khoa học nền tảng chứ không thể chỉ cung cấp những kiến thức công nghệ mới, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên trải nghiệm với thực tế công nghiệp chứ nhất định không thể đào tạo chay.

Bên cạnh những lĩnh vực khoa học kỹ thuật truyền thống, ta cũng cần xác định các lĩnh vực ưu tiên để đầu tư tập trung cho đào tạo chất lượng cao gắn kết với nghiên cứu, coi trọng cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Để bắt nhịp được với lĩnh vực khoa học thế mạnh của đất nước, trong các cơ sở đào tạo cũng nên có hướng đầu tư và xây dựng chương trình nghiên cứu, chương trình đào tạo theo lĩnh vực ưu tiên đó. Chương trình đào tạo phải đi đôi với công nghệ đào tạo, cần kêu gọi sự tham gia đầu tư cơ sở vật chất của doanh nghiệp và nhà nước.

PV: Cảm ơn PGS về các thông tin hữu ích trên!

TRÀ GIANG (thực hiện)


Thận trọng hiểu rõ CMCN4.0

PGS.TS. Nguyễn Ái Việt, nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin, 

Đại học Quốc gia Hà Nội (ảnh NVCC) 

Có CEO của một tập đoàn viễn thông cho rằng Việt Nam có thể dẫn đầu CMCN4.0 trên thế giới. Hai chữ “có thể” ở đây được sử dụng như là gợi nhắc đến một cơ hội, song nó cũng gây khá nhiều hiểu lầm trong số ít ỏi những người thực sự hiểu cuộc CMCN4.0 là gì. Thực chất, khái niệm CMCN4.0 đã được nhắc tới từ nhiều thập niên trước. Việc nhắc đến Cách mạng công nghiệp 4.0 vào những thời điểm đó được coi như một dự báo về viễn cảnh phát triển trong tương lai. Đến năm 2011, vào đúng dịp Hội chợ Hannover, khái niệm đó đã được “hồi sinh” bởi nhiều tuyên bố khác nhau xoay quanh vấn đề này.

Kể từ sau dấu mốc ấy, CMCN4.0 đã bắt đầu phát triển mạnh hơn nữa và bắt đầu vượt ra ngoài nền tảng ban đầu là cyber - physical systems (Các hệ thống tự động hoá sử dụng trí thông minh nhân tạo). Sự bùng nổ của nó ban đầu tưởng như chỉ là những lĩnh vực thuộc về trí thông minh nhân tạo đơn thuần, nhưng càng về sau, nó càng cho thấy sức ảnh hưởng lan tỏa đến nhiều lĩnh vực khác, thậm chí có những lĩnh vực nghe ra có vẻ không liên quan.

Báo chí, truyền thông hiện nay đưa tin rất nhiều về CMCN4.0. Họ thông tin rằng, Việt Nam có thể trở thành một trong những quốc gia đi đầu trong cuộc cách mạng này. Tuy nhiên, chúng ta cần phải thận trọng trước khi đưa ra những quan điểm về CMCN4.0 để có cái nhìn đúng đắn nhất, tránh sự lầm tưởng, hiểu sai bản chất vấn đề. 

Hãy nhìn vào bản chất ban đầu của CMCN4.0, tức là ứng dụng công nghệ sử dụng trí tuệ nhân tạo, chúng ta sẽ nhận ra rằng Việt Nam chưa có điều kiện để tham gia thực sự vào sân chơi công nghệ 4.0 trong thời điểm hiện tại với vai trò sáng tạo. Chúng ta chỉ có thể tham gia ở vai trò ứng dụng và ngay bản thân chuyện ứng dụng thế nào để mang lại hiệu quả kinh tế xã hội đã là một câu hỏi hóc búa, một vấn đề nan giải đối với những nhà quản lý. 

Hơn thế nữa, trong các đòi hỏi cho một cuộc CMCN4.0 nói chung luôn tồn tại 4 yếu tố rất quan trọng bao gồm: Vận hành, điều khiển qua internet; tính minh bạch thông tin; sự hỗ trợ của công nghệ và yêu cầu phân quyền quyết định. Các yếu tố nghe có vẻ đơn giản nhưng thực chất không hề dễ dàng thực hiện được ở Việt Nam lúc này (trừ yếu tố đầu tiên và yếu tố thứ ba) nếu như không đòi hỏi những cải cách rất mạnh mẽ trong xã hội. 

Vấn đề nữa không kém phần quan trọng tôi muốn lưu tâm đến đó chính là dữ liệu siêu lớn (Big Data). Thế giới hôm nay được quyết định bởi những người nắm giữ Big Data bởi họ có thể nắm bắt cụ thể hành vi của cộng đồng cũng như bẻ lái xu hướng cộng đồng từ đó một cách dễ dàng, biểu hiện rõ qua facebook, youtobe,... Và trí thông minh nhân tạo trong CMCN4.0 không phải là cuộc chơi của những người máy đơn thuần kỹ nghệ như chúng ta hình dung mà là cuộc chơi của những bộ não nhân tạo có thể học được hành vi người dùng để tạo tập quán riêng cho chính nó, thứ mà bản thân các cường quốc công nghệ trên thế giới cũng không dám mạnh dạn tuyên bố mình có khả năng dẫn đầu. 

Như vậy, trước làn sóng CMCN4.0, chúng ta nhất thiết phải quan tâm, nhưng không thể nào vội vã với những tuyên ngôn, những công bố ầm ĩ nhưng thiếu cơ sở thực chất. Bởi không thận trọng, chúng ta rất dễ trở thành nạn nhân thực sự của “con quái vật công nghệ”.


Tôi giật mình khi nghe nhiều tuyên bố lạc quan rằng Việt nam đi đầu trong cuộc CMCN4.0. 

TS. Lê Đăng doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương 

Giới khoa học và các cơ quan truyền thông cần “tỉnh táo” để thông tin đúng cho giới làm chính sách và người dân về CMCN4.0. Đặc biệt, nên tránh “thổi phồng” khả năng Việt Nam sẽ “dẫn đầu” CMCN4.0 hoặc đưa ra các dự đoán “mông lung” khiến người dân rơi vào tình trạng “bị tung hỏa mù”. Cần kiểm chứng thông tin, thậm chí là phải đính chính lại thông tin sai lệch theo hướng tiêu cực khiến dư luận hoang mang. Ví dụ, về tỉ lệ tự động hóa, báo chí đã từng đăng báo cáo của ILO về nguy cơ 80% lao động trong ngành may mặc sẽ bị thay thế bởi robot. Nhưng thực ra ILO quốc tế không làm báo cáo này, mà do ILO Thái Lan thuê một công ty máy tính để làm báo cáo đó. Và báo cáo đó không có căn cứ, không chính xác và không nên quá lo ngại về điều đó. Trong khi đó, Liên đoàn quốc tế về người máy tự động đưa ra số liệu về tỉ lệ thay thế này là 10%, nhưng việc thay thế lao động bằng người máy cũng phải nhận được sự chấp nhận của xã hội.

Chúng ta có thể sẽ tiếp tục ở lại “bên lề lịch sử” trước cuộc cách mạng công này bởi vì khu vực kinh tế tư nhân, nhân tố giữ vai trò chính trong các cuộc cách mạng công nghiệp vẫn đang rất yếu ớt và nhiều khi phải dựa vào vốn thân hữu nhiều hơn là ưu tiên đầu tư vào khoa học và công nghệ.

Chính phủ cần phải ngồi lại với giới doanh nghiệp để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và đưa ra chương trình hành động mới, trong đó có giao “đầu bài” cho các doanh nghiệp. Vì cách mạng công nghiệp diễn ra ở phía doanh nghiệp chứ không diễn ra trong các “chỉ thị”.


Bộ KH và CN sẽ phối hợp với các Bộ, ban ngành liên quan tham mưu cho chính phủ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp hiểu đúng về CMCN4.0. cùng với đó là khuyến khích doanh nghiệp có những bước đi cần thiết để tiếp cận thành công CMCN4.0.

Thứ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ Trần Văn Tùng 

Đến nay khái niệm CMCN4.0 đã nhanh chóng lan rộng trong xã hội. Mặc dù khái niệm này đã trở nên quá phổ biến trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau nhưng từng ngành một lại không biết chắc mình phải làm gì để vươn lên trong cuộc cách mạng này.

Khắc phục tình trạng trên, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có chỉ đạo “Tránh tình trạng chỗ nào cũng nói Cách mạng công nghiệp 4.0 nhưng hỏi làm gì cho ngành mình thì không ai biết rõ ràng”. Cùng với đó, các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp cho đến mỗi người dân cần phải có cái nhìn đa chiều và thật sự hiểu đúng về cuộc cách mạng này.

Thực tế cho thấy, CMCN4.0 đã và đang mang lại nhiều thành quả lớn từ trí tuệ nhân tạo cho đến sự kết nối, số hóa,... Tuy nhiên, nếu chúng ta không tỉnh táo, rất có thể CMCN4.0 sẽ bị biến thành một trào lưu kinh doanh của các ông lớn trong làng công nghệ. Những đơn vị này có xu thế đánh đồng các công nghệ nói chung với công nghệ 4.0.

Sắp tới, Việt Nam sẽ tập trung thực hiện các chương trình khoa học công nghệ quốc gia, đổi mới công nghệ, phát triển công nghệ cao, sản phẩm quốc gia. Các doanh nghiệp trong nước phải là nơi ứng dụng nhiều nhất khoa học công nghệ, cạnh tranh trong nước và quốc tế. Để tránh tình trạng trên, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp với Bộ Thông tin & Truyền thông và các Bộ, ban ngành có liên quan tham mưu cho Chính phủ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp hiểu đúng về CMCN4.0. Cùng với đó là khuyến khích doanh nghiệp có những bước đi cần thiết để tiếp cận thành công CMCN4.0, cách thức để doanh nghiệp triển khai, ứng dụng công nghệ nhằm khai thác các nguồn lực một cách hiệu quả nhất.


“...tạo điều kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ có cơ hội trở thành lực lượng lao động sáng tạo thay vì để họ thụ động bị cuộc cách mạng này cuốn đi không để lại dấu vết”. 

Ông Nguyễn Thái Hưng, Phó Tổng thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty AMECO 

Xin không đề cập lại các khái niệm và công nghệ liên quan đến cuộc cách mạng lần thứ 4, vì đã có hàng trăm tài liệu tổng hợp nói về đề tài này trên Internet, tôi chỉ muốn làm một sự so sánh nhỏ đầy ấn tượng về thời gian xâm nhập của các cuộc các mạng công nghiệp vào nước ta. Nếu như CMCN lần thứ nhất phải mất đến 54 năm kể từ khi phát minh ra máy hơi nước (1784) thì mãi đến năm 1838 (cuối thời vua Minh Mạng) xưởng đóng tàu Huế mới cho ra 3 chiếc tàu đầu tiên chạy bằng hơi nước; CMCN lần thứ hai kể từ khi Edison phát minh ra bóng đèn điện cũng phải mất 25 năm (1/4 thế kỷ) mới du nhập vào Việt Nam vào tháng 1/1895, lúc đó chính quyền Pháp cho xây nhà máy điện đầu tiên ở Hà Nội gần Hồ Gươm (thường được gọi là Nhà máy đèn Bờ Hồ) với hai tổ máy phát điện một chiều công suất 50 KW. Còn nếu xác định CMCN lần thứ ba hình thành từ khi phát minh ra bộ PLC đầu tiên vào năm 1970 và du nhập vào Việt Nam thông qua sự kiện mẻ Clanh-ke đầu tiên ra lò tại Nhà máy Xi măng Hoàng Thạch vào năm 1983, thì thời gian xâm nhập cũng phải mất 13 năm. Sau khi Tổng thống Bill Clinton thông báo quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại kéo dài 19 năm đối với nước CHXHCN Việt Nam, các hãng lớn chính thức được bật đèn xanh để thâm nhập thị trường, tạo ra làn sóng các sản phẩm công nghệ cao và giải pháp tự động hóa được chuyển giao và hiện diện ngày càng nhiều ở nước ta. Tiếp theo nếu chúng ta xác định mốc hình thành cuộc CMCN lần thứ tư là ngày 8 tháng 4 năm 2013, khi báo cáo cuối cùng của Nhóm Công tác 4.0 (CHLB Đức) được trình bày tại Hội chợ Hannover và 2 năm sau Giáo sư Klaus Schwab cho ra mắt cuốn sách “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư“ tại diễn đàn kinh tế thế giới năm 2016 như một sự tuyên ngôn về CMCN lần thứ tư thì sự xâm nhập của cuộc cách mạng công nghiệp lần này vào Việt Nam mất chỉ đúng 4 năm (chốt thời điểm ban hành chỉ thị 16/CT-TTg ngày 4-5-2017).

Đã đến lúc cần nhìn thẳng vào sự thật khách quan để nhận thức rõ ràng về làn sóng cuộc CMCN 4 hiện nay đang diễn ra với tốc độ cao ở khắp mọi nơi đặc biệt có cường độ rất lớn ở các nước phát triển, đã xuất hiện các sản phẩm và mô hình doanh nghiệp mới chưa từng tồn tại trong lịch sử nhân loại, tạo ra động lực mạnh mẽ, gia tăng về qui mô tác động trực tiếp đến kinh tế - xã hội, dẫn đến thay đổi phương thức sản xuất và lực lượng sản xuất toàn xã hội.

Là một trong những người tham gia trực tiếp vào sự nghiệp thúc đẩy phát triển ngành tự động hóa, tôi nhận thức rằng CMCN 4 mở ra cho Việt Nam một số cơ hội sau đây: Nâng cao trình độ công nghệ quốc gia, tăng cường năng lực sản xuất, cải thiện năng lực cạnh tranh trong chuỗi sản phẩm toàn cầu, kích thích đổi mới mô hình kinh doanh, giảm đáng kể chi phí dịch vụ và hậu cần, thúc đẩy đổi mới thể chế và hình thành nền tảng quản trị thông minh.

Tôi rất hy vọng Hội Tự động hóa Việt Nam sẽ nhiệt tình tham gia vào quá trình nâng cao nhận thức cộng đồng về Cơ hội - Nguy cơ - Thách thức của cuộc cách mạng này, để qua đó tham mưu cho Chính Phủ ban hành các quyết sách kịp thời về đào tạo nguồn nhân lực tương thích Industry 4.0, khuyến khích khởi nghiệp sáng tạo, xây dựng và cập nhật tiêu chuẩn mới về công nghiệp, đầu tư đi thẳng vào các lĩnh vực chúng ta còn có lợi thế như phát triển nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, thành phố thông minh, công nghiệp chế biến thông minh, đột phá phát triển ngành công nghiệp phần mềm, làm chủ công nghệ lõi trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn, an ninh thông tin, thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng công nghệ tự động hóa tích hợp điện toán đám mây, IoT,... tạo điều kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ có cơ hội trở thành lực lượng lao động sáng tạo thay vì để họ thụ động bị cuộc cách mạng này cuốn đi không để lại dấu vết.

Tôi tin rằng ở đâu có lý trí, ở đấy có con đường dẫn tới thành công, cho dù phía trước phải đối mặt với vô vàn thách thức. Thật đáng trách nếu ai đó còn mơ hồ và thờ ơ về các tác động tích cực của cuộc cách mạng công nghiệp này, và thật nguy hiểm nếu các lãnh đạo bộ, ngành và địa phương không nhận thức sớm những tác động tiêu cực có thể xảy ra, thì hậu họa là nền kinh tế chúng ta sẽ bị nhấn chìm trong bẫy thu nhập thấp.


Hiệu quả từ việc lắp đặt camera giao thông bằng hình ảnh

Hiệu quả từ việc lắp đặt camera giao thông bằng hình ảnh

Tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố lớn tình hình giao thông đang ngày càng trở nên phức tạp bởi mật độ phương tiện gia tăng, ý thức tham gia giao thông của người dân chưa cao, tổ chức giao thông chưa đáp ứng kịp với sự phát triển của xã hội. Để giải quyết tình trạng này, nhiều công ty trong và ngoài nước triển khai ứng dụng thành công hệ thống  camera giám sát thông minh bằng hình ảnh mang lại hiệu quả tích cực trong việc giảm thiểu ùn tắc và nâng cao ý thức người tham gia giao thông.

Hình ảnh xe vi phạm đi không đúng làn đường quy định

Trên thực tế ở nước ta, việc lắp đặt hệ thống giám sát giao thông bằng hình ảnh và camera đã được thực hiện từ lâu và đang không ngừng được triển khai rộng. Điều này được thể hiện khi Ủy ban An toàn giao thông quốc gia (Bộ Giao thông Vận tải) là chủ đầu tư đã trực tiếp đứng ra đấu thầu quốc tế gói thầu B7 về việc mua sắm, lắp đặt hệ thống camera giám sát trên hai tuyến thí điểm Hà Nội - Vinh và Tp. Hồ Chí Minh - Cần Thơ trên tuyến quốc lộ 1A.

Cho đến nay, nhiều dự án đã được thông qua như: hệ thống giám sát an toàn giao thông bằng hình ảnh tuyến quốc lộ 1A đoạn Pháp Vân - Ninh Bình chủ đầu tư C63-C67/TC7; Đề án 617/2009/QĐ-TTG về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự an toàn giao thông; Đề án 617, Xây dựng Hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trên Quốc lộ trọng điểm. Cục CSGT C67-BCA; Xây dựng trung tâm thông tin chỉ huy CSGT C67… các dự án và đề án đã mang lại được hiệu quả thiết thực, tích cực trong việc giữ gìn an toàn giao thông.

Theo số liệu báo cáo, thời gian thí điểm năm 2012, gần 01 tháng tại các địa phương như Long An, Nghệ An, Hà Nội, Thanh Hóa… đã ghi nhận 1.660 trường hợp vi phạm, số tiền phạt thu về được hơn 1,3 tỷ. So với năm 2012, thì năm 2015 qua hệ thống camera giám sát đã phát hiện và xử lý gần 4.000 phương tiện vi phạm. Đáng chú ý, số lượng ô tô, xe máy bị xử phạt nguội, khoảng 2.000 xe.

Được thử nghiệm từ tháng 10/2014, tại Hà Nội đã lắp đặt gần 450 camera phục vụ công tác đảm bảo an toàn giao thông. Trong khu vực nội thành Hà Nội,    camera được lắp đặt, ghi hình tại các nút giao thông trọng điểm, các tuyến như Thăng Long -  Nội Bài, Nhật Tân - Nội Bài mới, quốc lộ 5 và 9 tuyến đường ra vào trung tâm thành phố… Sau khi được chính thức đưa vào hoạt động từ tháng 12/2015, hệ thống camera là công cụ hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu chống ùn tắc, giảm tai nạn giao thông, hình ảnh do camera ghi lại được truyền về trung tâm 24/24h.

Những điểm lắp camera phạt nguội tại Hà Nội Có thể nói, hệ thống camera giám sát đã mang lại hiệu quả rất thiết thực trong việc quản lý an toàn giao thông. Nó không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao, chủ động công nghệ trong việc lắp đặt cũng như mang lại tính tích cực cho việc phát triển kinh tế, xã hội.

Theo ông Đinh Thành Hưng - Giám đốc dự án Công ty CP phát triển và chuyển giao công nghệ Mắt Thần cho biết: “Hệ thống giám sát bằng camera tự động hiện nay được kết hợp nhiều công nghệ tích hợp, kết hợp tự động hóa. Nhưng do chi phí lắp đặt cao nên vẫn có gặp nhiều khó khăn trong các cơ chế cũng như vận hành”.

Ông Hưng cũng cho rằng, trong thời gian ngắn, với lượng kinh phí hạn hẹp, các đơn vị, địa phương, nhà thầu đã có nhiều cố gắng xây dựng được một hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông lần đầu tiên triển khai trên tuyến quốc lộ ở Việt Nam do chính nhà thầu trong nước triển khai tích hợp, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thiếu đồng bộ. Khi đưa vào vận hành đã đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ, thu được nhiều kinh nghiệm phát triển ứng dụng rộng rãi hệ thống trong cả nước.

Minh họa hình ảnh truy xuất dữ liệu xe vi phạm lỗi tín hiệu đường giao thông

Hiệu quả của việc lắp đặt hệ thống camera giao thông bằng hình ảnh là một việc làm rất thiết thực và cần thiết của một đất nước phát triển. Nó không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà cũng giảm thiểu được rất nhiều trong việc theo dõi thông minh và điều khiển giao thông minh qua dữ liệu hình ảnh quan trắc tự động hóa ngày càng trở nên tiện lợi và đơn giản.

Hà An

Số 183 (5/2016)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay

Honeywell và Petrovietnam ký kết hợp tác trong khuôn khổ chuyến thăm của ông Barack Obama tới Việt Nam

Honeywell và Petrovietnam ký kết hợp tác trong khuôn khổ chuyến thăm của ông Barack Obama tới Việt Nam

Ngày 23/5/2016, Công ty Honeywell và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) đã ký kết thỏa thuận hợp tác cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn và tiếp tục tiến hành các hoạt động đào tạo cho Petrovietnam. Thỏa thuận được ký kết trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức tới Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, với sự chứng kiến của các đại diện của Chính phủ Hoa Kỳ - Việt Nam và các cán bộ cấp cao nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác cho ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.

Lễ ký kết có sự chứng kiến của ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI Việt Nam

Theo các điều khoản trong bản thỏa thuận, Honeywell sẽ có cơ hội cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp cho Petrovietnam và các công ty con của tập đoàn cho những dự án đầu tư trong tương lai cũng như hỗ trợ Petrovietnam trong thiết kế kĩ thuật, và nghiên cứu tính khả thi về công nghệ và kinh tế trong các dự án của các cơ sở sản xuất.

“Mối quan hệ hợp tác ngày càng tốt đẹp giữa Honeywell và Petrovietnam có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với hai tập đoàn mà còn với hai quốc gia”, bà Mai Trang Thanh, Chủ tịch Honeywell khu vực Đông Dương cũng cho biết: “Chúng tôi vô cùng vinh dự khi những công nghệ và dịch vụ tiên tiến của chúng tôi có thể góp phần giúp Việt Nam phát triển thành một quốc gia an toàn hơn, an ninh hơn và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn.”

"Honeywell là một đối tác quan trọng của các công ty dầu khí tại Việt Nam trong hai thập kỷ qua, và biên bản ghi nhớ đánh dấu một cột mốc quan trọng mới trong mối quan hệ này”, ông David Low, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc khu vực Châu Á Nhóm Công nghệ và Vật liệu chuyên dụng của Honeywell cho biết.

Hiện nay, Honeywell đã và đang cung cấp các công nghệ quá trình, các giải pháp điều khiển và tự động hóa, các dịch vụ quản lí công nghệ, các giải pháp an toàn cho các dự án thăm dò khai thác và chế biến dầu khí của Petrovietnam cũng như các dự án của các công ty con của tập đoàn như Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (Bien Dong POC), Liên doanh thăm dò và khai thác dầu khí Việt Nam - Liên bang Nga (Vietsovpetro), Nhà máy lọc dầu Dung Quất, và Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV Gas).

PV

Đẩy mạnh tự động hóa để phát triển kinh tế xã hội Thủ Đô

Đẩy mạnh tự động hóa để phát triển kinh tế xã hội Thủ Đô

Tại Hội nghị khoa học Tự động hóa với phát triển kinh tế xã hội Thủ đô được Hội Tự động hóa Hà Nội phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội tổ chức tại khu công nghệ cao Láng Hòa Lạc Hà Nội ngày 7/5/2016, các chuyên gia tham dự Hội nghị đã đưa ra những tiềm năng và những phương hướng đổi mới quan trọng của ngành Tự động hóa trong sự phát triển kinh tế và xã hội của Thủ đô.

Các nhà khoa học tham quan xưởng đèn Led của Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao công nghệ và Giám định công nghệ trong khuôn khổ hội thảo

Hội nghị được tổ chức trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng hơn, với nhiều Hiệp định Thương mại đã được ký kết, không chỉ tạo ra những cơ hội mà còn đứng trước những thách thức không nhỏ; đòi hỏi những nỗ lực rất lớn của toàn xã hội, nhất là đối với khối các doanh nghiệp và trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ.

Báo cáo cho thấy, Hội Tự động hóa thành phố Hà Nội trong những năm qua đã tham gia triển khai nhiều đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ. Các đề tài, dự án cấp thành phố như: nghiên cứu thiết kế, xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống tự động hóa xưởng nấu bia; nghiên cứu thiết kế và chế tạo các thiết bị nhận dạng tín hiệu sinh trắc học; nghiên cứu xây dựng phần mềm tích hợp trên ANSYS để tự động hóa tính toán thiết kế kết cấu thép cẩu trục công dụng chung,…

Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Thủ đô Hà Nội hiện nay đang đứng trước những thách thức cần giải quyết như tắc nghẽn và mất an toàn giao thông, ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, tiết kiệm năng lượng,... Những thách thức này, trong giai đoạn tiếp theo, ở lĩnh vực Tự động hóa, Hội Tự động hóa Hà Nội tiếp tục đẩy mạnh các nhiệm vụ trọng tâm mang tính chiến lược của đất nước bao gồm việc nghiên cứu chuyển giao công nghệ các sản phẩm hàm lượng khoa học cao, tiết kiệm năng lượng, chú trọng đến năng lượng tái tạo và năng lượng sạch. Trong đó đặc biệt chú tâm đến vấn đề từng bước hoàn thiện và xây dựng hệ thống SCADA cho các trạm điện và nghiên cứu triển khai mô hình SCADA riêng cho trạm biến áp do Hà Nội sản xuất; nghiên cứu tìm ra các sản phẩm hoàn thiện mang tính cơ điện tử cao như mô hình quản lý thu vé cho hệ thống giao thông công cộng, chế tạo dây chuyền sản xuất thực phẩm an toàn, xử lý môi trường; xây dựng các trung tâm gia công cơ khí trình độ cao và tạo ra các sản phẩm mang tính công nghệ phục vụ các ngành công nghiệp dân dụng, xuất khẩu chíp điện tử,…

Song để đạt được những mục tiêu trên đặc biệt là hoàn thành nhiệm vụ khoa học và công nghệ đến năm 2020 cũng gặp phải khó khăn nhất định về cơ chế chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích và thúc đẩy nghiên cứu của các nhà khoa học. Hay như TS. Lê Xuân Rao, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho rằng “Nhiều nhà khoa học giỏi về nghiên cứu nhưng thiếu về kinh nghiệm trong việc triển khai ứng dụng ra bên ngoài”.

Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển hội nhập, nhiều vấn đề được đặt ra cho các nhà khoa học là làm sao để có thể cải thiện cũng như nâng cao chất lượng các sản phẩm khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu hiện nay. Bà Nguyễn Minh (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng hiện nay chúng ta đang thiếu tập trung, dàn trải các vấn đề. Các vấn đề có thể tập trung như: nghiên cứu xử lý vấn đề rác thải, ô nhiễm môi trường, tự động hóa hệ thống giao thông bài bản, quy hoạch phải hợp lý; xử lý an toàn vệ sinh thực phẩm,… Ngoài ra, kiến nghị đến các cơ quan quản lý nhà nước về khoa học công nghệ trong đổi mới hệ thống quản lý về khoa học công nghệ; đổi mới căn bản việc xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và đổi mới cơ chế quản lý tài chính. Bên cạnh đổi mới về quản lý, các tổ chức khoa học công nghệ cũng cần tập trung đến phát triển nguồn nhân lực, phát triển thị trường ứng dụng khoa học công nghệ và tăng cường hợp tác trong và ngoài nước về khoa học công nghệ.

 Phát biểu tại hội nghị, GS.TS .Vũ Hoan đánh giá cao việc tổ chức hội nghị của Hội Tự động hóa Hà Nội. Bởi, thông qua đây, Hội Tự động hóa Hà Nội sẽ thu góp được nhiều ý kiến bổ ích, giúp Hội có những định hướng tốt hơn trong thời gian tới.

Tổng kết Hội nghị, TS. Lê Xuân Rao đã khái quát những vấn đề được nêu và cho rằng đó là những đóng góp thiết thực, cụ thể và có giá trị, giúp hội nghị thành công. Trên cơ sở đó, Sở Khoa học và Công nghệ cũng như Hội Tự động hóa Hà Nội sẽ hoàn thiện định hướng và những nội dung cho hoạt động thời gian tới, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội, cũng như giúp cho quá trình chỉ đạo của Sở được sâu sát hơn.

Nhằm thực hiện chủ trương đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ theo hướng hiện đại, gắn với thực tiễn, Sở Khoa học công nghệ Hà Nội cùng với thành phố đã thành lập Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao công nghệ và Giám định công nghệ, với máy móc, thiết bị hiện đại, dù mới được vận hành trong vòng nửa năm nhưng đã đáp ứng được nhiều yêu cầu phát triển về khoa học công nghệ cho Thủ Đô.

Hương Duyên

Số 183 (5/2016)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay