Customer Built Testers

Hiểu đúng và chọn bước đi phù hợp trong “cơn bão” cách mạng công nghiệp 4.0

Email In PDF.

Lời Tòa soạn 

Khái niệm Industrie 4.0 hay là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4) lần đầu tiên đề cập trong bản Kế hoạch hành động chiến lược công nghệ cao được chính phủ Đức thông qua vào năm 2013. Tiếp đến, ngày 20/01/2016, tại Thụy Sĩ, Diễn đàn kinh tế thế giới được khai mạc với chủ đề “Làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Từ đó đến nay, thông tin về cMcn4 luôn tràn ngập trên nhiều diễn đàn, ở nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội, ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt nam thậm chí còn được cho là “nghe nói nhiều hơn ở các nước phát triển”.

Vấn đề quan trọng là chúng ta hiểu rõ về cMcn4 đến đâu và lựa chọn của chúng ta như thế nào là hợp lý để nắm bắt được cơ hội mà thành quả của CMCN4 mang lại?
Trong số Tạp chí tháng 7 này, Ban biên tập Tạp chí Tự động hóa ngày nay đăng tải một số bài báo, một số ý kiến trả lời phỏng vấn xung quanh câu chuyện của cMcn4 để có thêm góc nhìn hữu ích 

Bài trả lời phỏng vấn của PGS.TS.Hoàng Minh Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
 
PV: Thưa PGS.TS. Hoàng Minh Sơn, ông nhìn nhận như thế nào đối với cách hiểu về CMCN4 trên nhiều diễn đàn tại Việt Nam hiện nay?

PGS.TS. Hoàng Minh Sơn: Hiện nay các diễn đàn về công nghiệp 4.0 rất nhiều, nếu chúng ta đọc và nghe nhiều sẽ có được cái nhìn khá toàn diện. Có những bài viết tổng quan khá sâu, cũng có bài viết hời hợt. Có người chỉ đi sâu về một thứ, chẳng hạn như có người nói về IoT, có người nói về khoa học dữ liệu, có người nói về trí tuệ nhân tạo. Để hiểu được một cách toàn diện phải xuất phát từ nguồn gốc của khái niệm và xem xét quá trình phát triển về sau của nó như thế nào.

Hieu-dung-va-chon-buoc-di-phu-hop-trong-con-bao-CMCN-4-0

PGS.TS.Hoàng Minh Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (Ảnh nguồn CCPR-HUST

PV: Cụ thể là như thế nào, thưa ông? 

PGS.TS. Hoàng Minh Sơn: Về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể khái quát như sau: Công nghiệp 4.0 xuất phát từ chữ Industrie tại Đức và bắt nguồn từ sản xuất công nghiệp. Ở đây chúng ta không bàn đến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, thứ hai mà lấy xuất phát điểm từ cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Trước năm 1968, khi nói đến công nghệ tự động hóa, hầu hết các hệ thống điều khiển sử dụng các bộ điều khiển tương tự (cho điều khiển liên tục) cũng như các thiết bị PLD và rơ le (cho điều khiển rời rạc, điều khiển logic). Nhưng từ năm 1969 và những năm sau chúng ta đã biết đến tự động hóa ứng dụng công nghệ số, gắn liền với nó là các hệ thống điều khiển phân tán tích hợp cao DCS (Distributed Control System) và thiết bị điều khiển lập trình PLC (Programmable Logic Controller).

Tín hiệu điều khiển lúc này đã được số hóa và được xử lý trong các bộ điều khiển dưới dạng dữ liệu (nhị phân). Với sự phát triển của công nghệ bus trường, thiết bị điều khiển được kết nối trực tiếp với các thiết bị đo và thiết bị chấp hành qua công nghệ truyền thông số. Các bộ điều khiển cũng được kết nối với cấp điều khiển giám sát và cấp điều hành sản xuất qua mạng LAN. Có thể nói các chức năng tự động hóa đã được tích hợp toàn diện, nhưng đây chưa phải là bước nhảy để đi đến công nghệ 4.0. Vậy bước đột phá đánh dấu CMCN4 ra đời là từ khi nào? 

Trước đây, chúng ta nói tới hệ thống tích hợp toàn diện tuy nhiên chỉ là tích hợp về mặt chức năng và về mặt không gian, giữa các thiết bị điều khiển, thiết bị chấp hành, các thiết bị đo, chứ chưa nói đến tích hợp về mặt thời gian và quy trình. Để có hệ thống sản xuất khép kín phải bắt nguồn từ khâu thiết kế sản phẩm, lập kế hoạch sản xuất; thiết kế chi tiết cho hệ thống máy móc đến đưa vào vận hành hệ thống, bảo trì hệ thống; sản xuất xong đến khâu dịch vụ sản phẩm, rồi quay lại cải tiến sản phẩm để phát triển sản phẩm.

Sự đột phá chính là người ta đã tích hợp được các bước này với nhau. Trước đây, khi thiết kế dùng máy tính để tạo nên bản vẽ, việc số hóa là chỉ phục vụ cho thiết kế trên máy tính và chỉ phối hợp giữa những người trong cùng nhóm thiết kế. Hay nói cách khác, máy tính chỉ hỗ trợ khâu thiết kế (Computer Aided Design - CAD). Các dữ liệu đó chưa đủ khả năng truyền tải để máy móc hiểu các quy trình tiếp theo. Hay máy tính hỗ trợ chúng ta trong quá trình sản xuất tự động hóa (Computer Aided Manufacturing - CAM). Nhưng các bước này vẫn rời rạc, con người vẫn phải hỗ trợ cho nhau. Nhưng hiện nay, giao diện giữa các quy trình này không còn là các bản cứng nữa mà được số hóa thực sự giúp giảm rất nhiều công sức, thời gian, chuyển đổi. Ví dụ dữ liệu thiết kế đã được số hóa để đưa vào lập kế hoạch, từ lập kế hoạch lại được số hóa để đưa vào lập trình tự động hóa khâu sản xuất, cùng từ dữ liệu đó để được đưa vào bảo trì hệ thống, dịch vụ cho sản phẩm. Tất cả các cơ sở dữ liệu đó đã được đưa vào nền tảng chung để giảm thời gian, công sức và quan trong hơn nữa là giảm sai sót. Hệ thống sản xuất ngày nay không những được tích hợp theo không gian mà còn theo thời gian, tích hợp giữa các công đoạn trong chu trình sản phẩm.

Số hóa không chỉ là để lưu trữ, truyền tải và xử lý thông tin trên máy tính, trên các bộ điều khiển, mà ở đây thực sự là tương tác thông tin giữa con người với máy, giữa máy với máy. Ở đây, máy tính, bộ điều khiển hay robot có thể diễn giải được, có thể hiểu được thông tin chứa đựng trong khối lượng rất lớn dữ liệu trao đổi từ nhiều thiết bị kết nối với nhau và từ các quy trình khác nhau để đưa ra các quyết định, các thao tác cần thiết. Và khi đó những công nghệ như Big Data, IoT, trí tuệ nhân tạo bắt đầu được nói tới hay được quan tâm trở lại nhiều hơn. Đây chính là xuất phát điểm cho các nền tảng công nghệ của CMCN4. 

PV: Vậy theo ông, Việt Nam nên tiếp cận thành quả của CMCN4 như thế nào cho hiệu quả?

PGS.TS. Hoàng Minh Sơn: Công nghiệp 4.0 xuất phát từ sản xuất công nghiệp nhưng thực tế của thế giới cho thấy dựa trên nền tảng công nghệ của công nghiệp sản xuất thì thành quả của nó đã được mở rộng ra ngoài tầm công nghiệp và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội như Y tế,du lịch, nông nghiệp, giao thông,...

Với Việt Nam, chúng ta nên lựa chọn phát triển những lĩnh vực công nghệ nền tảng có thế mạnh, đồng thời đầu tư không quá lớn, ví dụ như Toán học, Công nghệ thông tin và Truyền thông, Điều khiển học để đi vào khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo,... để tạo ra những phần mềm làm cho các hệ thống thông minh hơn. Tôi tin là những lĩnh vực này có thể giúp Việt Nam tiến nhanh trong xu thế của CMCN4.

PV: Để tham gia vào CMCN4 đòi hỏi nguồn nhân lực đủ đáp ứng, vậy thì ở góc độ của một người quản lý về đào tạo, ông thấy chúng ta cần làm gì?
PGS.TS. Hoàng Minh Sơn: Để tiếp cận tốt với CMCN4 thì cốt lõi vẫn phải là nguồn nhân lực chất lượng cao. Vấn đề mấu chốt trong đào tạo là phải trang bị cho người học kiến thức nền tảng vững chắc và khả năng thích ứng, do đó chúng ta phải chú trọng những môn khoa học nền tảng chứ không thể chỉ cung cấp những kiến thức công nghệ mới, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên trải nghiệm với thực tế công nghiệp chứ nhất định không thể đào tạo chay.

Bên cạnh những lĩnh vực khoa học kỹ thuật truyền thống, ta cũng cần xác định các lĩnh vực ưu tiên để đầu tư tập trung cho đào tạo chất lượng cao gắn kết với nghiên cứu, coi trọng cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Để bắt nhịp được với lĩnh vực khoa học thế mạnh của đất nước, trong các cơ sở đào tạo cũng nên có hướng đầu tư và xây dựng chương trình nghiên cứu, chương trình đào tạo theo lĩnh vực ưu tiên đó. Chương trình đào tạo phải đi đôi với công nghệ đào tạo, cần kêu gọi sự tham gia đầu tư cơ sở vật chất của doanh nghiệp và nhà nước.

PV: Cảm ơn PGS về các thông tin hữu ích trên!

TRÀ GIANG (thực hiện)


Thận trọng hiểu rõ CMCN4.0

pgs naviet

PGS.TS. Nguyễn Ái Việt, nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin, 

Đại học Quốc gia Hà Nội (ảnh NVCC) 

Có CEO của một tập đoàn viễn thông cho rằng Việt Nam có thể dẫn đầu CMCN4.0 trên thế giới. Hai chữ “có thể” ở đây được sử dụng như là gợi nhắc đến một cơ hội, song nó cũng gây khá nhiều hiểu lầm trong số ít ỏi những người thực sự hiểu cuộc CMCN4.0 là gì. Thực chất, khái niệm CMCN4.0 đã được nhắc tới từ nhiều thập niên trước. Việc nhắc đến Cách mạng công nghiệp 4.0 vào những thời điểm đó được coi như một dự báo về viễn cảnh phát triển trong tương lai. Đến năm 2011, vào đúng dịp Hội chợ Hannover, khái niệm đó đã được “hồi sinh” bởi nhiều tuyên bố khác nhau xoay quanh vấn đề này.

Kể từ sau dấu mốc ấy, CMCN4.0 đã bắt đầu phát triển mạnh hơn nữa và bắt đầu vượt ra ngoài nền tảng ban đầu là cyber - physical systems (Các hệ thống tự động hoá sử dụng trí thông minh nhân tạo). Sự bùng nổ của nó ban đầu tưởng như chỉ là những lĩnh vực thuộc về trí thông minh nhân tạo đơn thuần, nhưng càng về sau, nó càng cho thấy sức ảnh hưởng lan tỏa đến nhiều lĩnh vực khác, thậm chí có những lĩnh vực nghe ra có vẻ không liên quan.

Báo chí, truyền thông hiện nay đưa tin rất nhiều về CMCN4.0. Họ thông tin rằng, Việt Nam có thể trở thành một trong những quốc gia đi đầu trong cuộc cách mạng này. Tuy nhiên, chúng ta cần phải thận trọng trước khi đưa ra những quan điểm về CMCN4.0 để có cái nhìn đúng đắn nhất, tránh sự lầm tưởng, hiểu sai bản chất vấn đề. 

Hãy nhìn vào bản chất ban đầu của CMCN4.0, tức là ứng dụng công nghệ sử dụng trí tuệ nhân tạo, chúng ta sẽ nhận ra rằng Việt Nam chưa có điều kiện để tham gia thực sự vào sân chơi công nghệ 4.0 trong thời điểm hiện tại với vai trò sáng tạo. Chúng ta chỉ có thể tham gia ở vai trò ứng dụng và ngay bản thân chuyện ứng dụng thế nào để mang lại hiệu quả kinh tế xã hội đã là một câu hỏi hóc búa, một vấn đề nan giải đối với những nhà quản lý. 

Hơn thế nữa, trong các đòi hỏi cho một cuộc CMCN4.0 nói chung luôn tồn tại 4 yếu tố rất quan trọng bao gồm: Vận hành, điều khiển qua internet; tính minh bạch thông tin; sự hỗ trợ của công nghệ và yêu cầu phân quyền quyết định. Các yếu tố nghe có vẻ đơn giản nhưng thực chất không hề dễ dàng thực hiện được ở Việt Nam lúc này (trừ yếu tố đầu tiên và yếu tố thứ ba) nếu như không đòi hỏi những cải cách rất mạnh mẽ trong xã hội. 

Vấn đề nữa không kém phần quan trọng tôi muốn lưu tâm đến đó chính là dữ liệu siêu lớn (Big Data). Thế giới hôm nay được quyết định bởi những người nắm giữ Big Data bởi họ có thể nắm bắt cụ thể hành vi của cộng đồng cũng như bẻ lái xu hướng cộng đồng từ đó một cách dễ dàng, biểu hiện rõ qua facebook, youtobe,... Và trí thông minh nhân tạo trong CMCN4.0 không phải là cuộc chơi của những người máy đơn thuần kỹ nghệ như chúng ta hình dung mà là cuộc chơi của những bộ não nhân tạo có thể học được hành vi người dùng để tạo tập quán riêng cho chính nó, thứ mà bản thân các cường quốc công nghệ trên thế giới cũng không dám mạnh dạn tuyên bố mình có khả năng dẫn đầu. 

Như vậy, trước làn sóng CMCN4.0, chúng ta nhất thiết phải quan tâm, nhưng không thể nào vội vã với những tuyên ngôn, những công bố ầm ĩ nhưng thiếu cơ sở thực chất. Bởi không thận trọng, chúng ta rất dễ trở thành nạn nhân thực sự của “con quái vật công nghệ”.


Tôi giật mình khi nghe nhiều tuyên bố lạc quan rằng Việt nam đi đầu trong cuộc CMCN4.0. 

tien si le dang doanh

TS. Lê Đăng doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương 

Giới khoa học và các cơ quan truyền thông cần “tỉnh táo” để thông tin đúng cho giới làm chính sách và người dân về CMCN4.0. Đặc biệt, nên tránh “thổi phồng” khả năng Việt Nam sẽ “dẫn đầu” CMCN4.0 hoặc đưa ra các dự đoán “mông lung” khiến người dân rơi vào tình trạng “bị tung hỏa mù”. Cần kiểm chứng thông tin, thậm chí là phải đính chính lại thông tin sai lệch theo hướng tiêu cực khiến dư luận hoang mang. Ví dụ, về tỉ lệ tự động hóa, báo chí đã từng đăng báo cáo của ILO về nguy cơ 80% lao động trong ngành may mặc sẽ bị thay thế bởi robot. Nhưng thực ra ILO quốc tế không làm báo cáo này, mà do ILO Thái Lan thuê một công ty máy tính để làm báo cáo đó. Và báo cáo đó không có căn cứ, không chính xác và không nên quá lo ngại về điều đó. Trong khi đó, Liên đoàn quốc tế về người máy tự động đưa ra số liệu về tỉ lệ thay thế này là 10%, nhưng việc thay thế lao động bằng người máy cũng phải nhận được sự chấp nhận của xã hội.

Chúng ta có thể sẽ tiếp tục ở lại “bên lề lịch sử” trước cuộc cách mạng công này bởi vì khu vực kinh tế tư nhân, nhân tố giữ vai trò chính trong các cuộc cách mạng công nghiệp vẫn đang rất yếu ớt và nhiều khi phải dựa vào vốn thân hữu nhiều hơn là ưu tiên đầu tư vào khoa học và công nghệ.

Chính phủ cần phải ngồi lại với giới doanh nghiệp để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và đưa ra chương trình hành động mới, trong đó có giao “đầu bài” cho các doanh nghiệp. Vì cách mạng công nghiệp diễn ra ở phía doanh nghiệp chứ không diễn ra trong các “chỉ thị”.


Bộ KH và CN sẽ phối hợp với các Bộ, ban ngành liên quan tham mưu cho chính phủ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp hiểu đúng về CMCN4.0. cùng với đó là khuyến khích doanh nghiệp có những bước đi cần thiết để tiếp cận thành công CMCN4.0.

thu truong tran van tung

Thứ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ Trần Văn Tùng 

Đến nay khái niệm CMCN4.0 đã nhanh chóng lan rộng trong xã hội. Mặc dù khái niệm này đã trở nên quá phổ biến trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau nhưng từng ngành một lại không biết chắc mình phải làm gì để vươn lên trong cuộc cách mạng này.

Khắc phục tình trạng trên, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có chỉ đạo “Tránh tình trạng chỗ nào cũng nói Cách mạng công nghiệp 4.0 nhưng hỏi làm gì cho ngành mình thì không ai biết rõ ràng”. Cùng với đó, các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp cho đến mỗi người dân cần phải có cái nhìn đa chiều và thật sự hiểu đúng về cuộc cách mạng này.

Thực tế cho thấy, CMCN4.0 đã và đang mang lại nhiều thành quả lớn từ trí tuệ nhân tạo cho đến sự kết nối, số hóa,... Tuy nhiên, nếu chúng ta không tỉnh táo, rất có thể CMCN4.0 sẽ bị biến thành một trào lưu kinh doanh của các ông lớn trong làng công nghệ. Những đơn vị này có xu thế đánh đồng các công nghệ nói chung với công nghệ 4.0.

Sắp tới, Việt Nam sẽ tập trung thực hiện các chương trình khoa học công nghệ quốc gia, đổi mới công nghệ, phát triển công nghệ cao, sản phẩm quốc gia. Các doanh nghiệp trong nước phải là nơi ứng dụng nhiều nhất khoa học công nghệ, cạnh tranh trong nước và quốc tế. Để tránh tình trạng trên, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp với Bộ Thông tin & Truyền thông và các Bộ, ban ngành có liên quan tham mưu cho Chính phủ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp hiểu đúng về CMCN4.0. Cùng với đó là khuyến khích doanh nghiệp có những bước đi cần thiết để tiếp cận thành công CMCN4.0, cách thức để doanh nghiệp triển khai, ứng dụng công nghệ nhằm khai thác các nguồn lực một cách hiệu quả nhất.


“...tạo điều kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ có cơ hội trở thành lực lượng lao động sáng tạo thay vì để họ thụ động bị cuộc cách mạng này cuốn đi không để lại dấu vết”. 

nguyen-thai-hung-ameco

Ông Nguyễn Thái Hưng, Phó Tổng thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty AMECO 

Xin không đề cập lại các khái niệm và công nghệ liên quan đến cuộc cách mạng lần thứ 4, vì đã có hàng trăm tài liệu tổng hợp nói về đề tài này trên Internet, tôi chỉ muốn làm một sự so sánh nhỏ đầy ấn tượng về thời gian xâm nhập của các cuộc các mạng công nghiệp vào nước ta. Nếu như CMCN lần thứ nhất phải mất đến 54 năm kể từ khi phát minh ra máy hơi nước (1784) thì mãi đến năm 1838 (cuối thời vua Minh Mạng) xưởng đóng tàu Huế mới cho ra 3 chiếc tàu đầu tiên chạy bằng hơi nước; CMCN lần thứ hai kể từ khi Edison phát minh ra bóng đèn điện cũng phải mất 25 năm (1/4 thế kỷ) mới du nhập vào Việt Nam vào tháng 1/1895, lúc đó chính quyền Pháp cho xây nhà máy điện đầu tiên ở Hà Nội gần Hồ Gươm (thường được gọi là Nhà máy đèn Bờ Hồ) với hai tổ máy phát điện một chiều công suất 50 KW. Còn nếu xác định CMCN lần thứ ba hình thành từ khi phát minh ra bộ PLC đầu tiên vào năm 1970 và du nhập vào Việt Nam thông qua sự kiện mẻ Clanh-ke đầu tiên ra lò tại Nhà máy Xi măng Hoàng Thạch vào năm 1983, thì thời gian xâm nhập cũng phải mất 13 năm. Sau khi Tổng thống Bill Clinton thông báo quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại kéo dài 19 năm đối với nước CHXHCN Việt Nam, các hãng lớn chính thức được bật đèn xanh để thâm nhập thị trường, tạo ra làn sóng các sản phẩm công nghệ cao và giải pháp tự động hóa được chuyển giao và hiện diện ngày càng nhiều ở nước ta. Tiếp theo nếu chúng ta xác định mốc hình thành cuộc CMCN lần thứ tư là ngày 8 tháng 4 năm 2013, khi báo cáo cuối cùng của Nhóm Công tác 4.0 (CHLB Đức) được trình bày tại Hội chợ Hannover và 2 năm sau Giáo sư Klaus Schwab cho ra mắt cuốn sách “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư“ tại diễn đàn kinh tế thế giới năm 2016 như một sự tuyên ngôn về CMCN lần thứ tư thì sự xâm nhập của cuộc cách mạng công nghiệp lần này vào Việt Nam mất chỉ đúng 4 năm (chốt thời điểm ban hành chỉ thị 16/CT-TTg ngày 4-5-2017).

Đã đến lúc cần nhìn thẳng vào sự thật khách quan để nhận thức rõ ràng về làn sóng cuộc CMCN 4 hiện nay đang diễn ra với tốc độ cao ở khắp mọi nơi đặc biệt có cường độ rất lớn ở các nước phát triển, đã xuất hiện các sản phẩm và mô hình doanh nghiệp mới chưa từng tồn tại trong lịch sử nhân loại, tạo ra động lực mạnh mẽ, gia tăng về qui mô tác động trực tiếp đến kinh tế - xã hội, dẫn đến thay đổi phương thức sản xuất và lực lượng sản xuất toàn xã hội.

Là một trong những người tham gia trực tiếp vào sự nghiệp thúc đẩy phát triển ngành tự động hóa, tôi nhận thức rằng CMCN 4 mở ra cho Việt Nam một số cơ hội sau đây: Nâng cao trình độ công nghệ quốc gia, tăng cường năng lực sản xuất, cải thiện năng lực cạnh tranh trong chuỗi sản phẩm toàn cầu, kích thích đổi mới mô hình kinh doanh, giảm đáng kể chi phí dịch vụ và hậu cần, thúc đẩy đổi mới thể chế và hình thành nền tảng quản trị thông minh.

Tôi rất hy vọng Hội Tự động hóa Việt Nam sẽ nhiệt tình tham gia vào quá trình nâng cao nhận thức cộng đồng về Cơ hội - Nguy cơ - Thách thức của cuộc cách mạng này, để qua đó tham mưu cho Chính Phủ ban hành các quyết sách kịp thời về đào tạo nguồn nhân lực tương thích Industry 4.0, khuyến khích khởi nghiệp sáng tạo, xây dựng và cập nhật tiêu chuẩn mới về công nghiệp, đầu tư đi thẳng vào các lĩnh vực chúng ta còn có lợi thế như phát triển nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, thành phố thông minh, công nghiệp chế biến thông minh, đột phá phát triển ngành công nghiệp phần mềm, làm chủ công nghệ lõi trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn, an ninh thông tin, thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng công nghệ tự động hóa tích hợp điện toán đám mây, IoT,... tạo điều kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ có cơ hội trở thành lực lượng lao động sáng tạo thay vì để họ thụ động bị cuộc cách mạng này cuốn đi không để lại dấu vết.

Tôi tin rằng ở đâu có lý trí, ở đấy có con đường dẫn tới thành công, cho dù phía trước phải đối mặt với vô vàn thách thức. Thật đáng trách nếu ai đó còn mơ hồ và thờ ơ về các tác động tích cực của cuộc cách mạng công nghiệp này, và thật nguy hiểm nếu các lãnh đạo bộ, ngành và địa phương không nhận thức sớm những tác động tiêu cực có thể xảy ra, thì hậu họa là nền kinh tế chúng ta sẽ bị nhấn chìm trong bẫy thu nhập thấp.



Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: